Văn hóa - Xã hội

Phê duyệt Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2026–2030

Phan Anh 09:41 13/08/2026

Thủ tướng Chính phủ vừa chính thức ban hành Quyết định số 1415/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026 - 2030". Không dừng lại ở những định hướng chung, quyết định này thiết lập một hành lang pháp lý vững chắc, hệ thống hóa toàn bộ công tác bảo vệ thế hệ tương lai bằng các chỉ tiêu cụ thể, công cụ chuyển đổi số hiện đại và cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ.

1785918804065_1911544557537518397_410726621131425801_557d895096d77939707d96fd44d128f8.jpg
Quyết định 1415/QĐ-TTg nêu rõ quan điểm xuyên suốt: bảo đảm mọi trẻ em đều được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, thân thiện, bình đẳng và được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần...

Trẻ em là mầm non, tương lai của đất nước, nhưng cũng là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước những tác động tiêu cực của biến động kinh tế và các áp lực xã hội hiện đại. Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, Nhà nước và cam kết quốc tế, Quyết định 1415/QĐ-TTg nêu rõ quan điểm xuyên suốt: bảo đảm mọi trẻ em đều được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, thân thiện, bình đẳng và được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần. Điểm nhấn của chương trình là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy ứng phó thụ động sang chủ động phòng ngừa, đồng thời tạo mọi cơ hội phục hồi, hòa nhập cho những em nhỏ từng chịu tổn thương do bạo lực, bóc lột hay lao động sớm.

100% học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ

Chương trình bảo vệ và chăm sóc trẻ em giai đoạn 2026–2030 được triển khai trên phạm vi toàn quốc nhằm bảo đảm mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh. Mục tiêu tổng quát của chương trình là giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục, lao động trái quy định, có nguy cơ bị bóc lột, bỏ rơi hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khác được hòa nhập và phát triển toàn diện, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, chương trình đề ra các chỉ tiêu cơ bản phấn đấu hoàn thành đến năm 2030. Cụ thể, toàn bộ 100% gia đình có trẻ em sẽ được tiếp cận kiến thức, kỹ năng bảo vệ trẻ em qua nhiều hình thức đa dạng, đồng thời 100% học sinh được trang bị kiến thức, kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ trước các hành vi xâm hại, bạo lực học đường, bạo lực mạng và phòng ngừa lao động trẻ em phù hợp với độ tuổi. Bên cạnh đó, 100% công chức, viên chức, người làm công tác bảo vệ trẻ em tại các cơ sở y tế, giáo dục, trợ giúp xã hội và các cơ quan liên quan sẽ được nâng cao năng lực chuyên môn. Chương trình cũng hướng tới việc cung cấp thông tin, kiến thức về phòng ngừa và phát hiện lao động trẻ em cho 90% doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và cơ sở kinh doanh dịch vụ đang hoạt động.

Về mặt hạ tầng và mô hình hỗ trợ, 100% tỉnh, thành phố sẽ triển khai mô hình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp đa ngành bao gồm y tế, giáo dục, công an, trợ giúp pháp lý, tâm lý, công tác xã hội và an sinh xã hội. Ở cấp xã, 95% đơn vị sẽ triển khai mô hình dịch vụ liên ngành và 100% đơn vị thành lập phòng điều tra thân thiện. Chương trình đặt chỉ tiêu mỗi năm giảm ít nhất 5% tỷ lệ trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục và giảm tỷ lệ lao động trẻ em từ 5 đến 17 tuổi xuống dưới 1,1%. Khi phát hiện các trường hợp trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, 100% các em sẽ được can thiệp, hỗ trợ kịp thời, đúng quy định, đồng thời đáp ứng 100% yêu cầu trợ giúp pháp lý phát sinh. Cuối cùng, toàn bộ trẻ em thuộc các nhóm đối tượng này cùng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác sẽ được quản lý đồng bộ trên hệ thống cơ sở dữ liệu trẻ em, có kết nối dùng chung với các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan.

Giải pháp toàn diện nhằm tăng cường bảo vệ, chăm sóc và phòng ngừa xâm hại trẻ em

Để triển khai công tác bảo vệ trẻ em một cách hiệu quả, hệ thống nhiệm vụ và giải pháp tập trung trước hết vào việc hoàn thiện quy định pháp luật, cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn và hướng dẫn liên quan. Các cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Trẻ em cũng như các quy định pháp luật liên quan nhằm bảo đảm tính tương thích với chủ trương của Đảng, Nhà nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, đặc biệt chú trọng chính sách hỗ trợ các tổ chức, gia đình, cá nhân cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em. Đồng thời, các quy định về quy trình, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật của dịch vụ bảo vệ trẻ em, tiêu chí xác định lao động trẻ em cùng cơ chế phối hợp liên ngành trong phòng, chống bạo lực, xâm hại tình dục và giảm thiểu lao động trẻ em sẽ tiếp tục được hoàn thiện.

Bên cạnh hoàn thiện thể chế, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và nâng cao năng lực cũng được đổi mới toàn diện. Các hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng vận động xã hội sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tận dụng ưu thế của môi trường mạng để triển khai trọng tâm, thiết thực đến từng nhóm đối tượng và vùng miền, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống tài liệu, sản phẩm truyền thông sẽ được xây dựng bài bản nhằm làm rõ trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ sở trợ giúp xã hội và các cơ quan liên quan.

Song song đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, trợ giúp pháp lý, kỹ năng bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng và công tác xã hội sẽ được tổ chức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người cung cấp dịch vụ, mạng lưới cộng tác viên cũng như cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp, hợp tác xã.

Một giải pháp then chốt khác là phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em thông qua việc lồng ghép các dịch vụ y tế, giáo dục, tư pháp, trợ giúp pháp lý và an sinh xã hội, đồng thời thúc đẩy liên kết giữa các cơ sở nhằm hình thành mạng lưới liên thông, toàn diện, đáp ứng kịp thời nhu cầu của trẻ em và gia đình. Các mô hình cung cấp dịch vụ hiệu quả như dịch vụ bảo vệ trẻ em tích hợp, dịch vụ liên ngành và phòng điều tra thân thiện sẽ được nhân rộng.

Đáng chú ý, công tác phòng ngừa, phát hiện và can thiệp lao động trẻ em hoặc trẻ em có nguy cơ trở thành lao động trẻ em sẽ được tập trung xử lý tại các khu vực trọng điểm như nông nghiệp, chuỗi cung ứng, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, hộ gia đình, kinh doanh cá thể và làng nghề. Trẻ em thuộc nhóm này sẽ được bảo đảm tiếp cận đầy đủ các dịch vụ an sinh xã hội, giáo dục phổ thông, học nghề, kết hợp với các chương trình hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo cho gia đình, bên cạnh việc khuyến khích các doanh nghiệp và hợp tác xã tự xây dựng cơ chế giám sát rủi ro trong chuỗi cung ứng.

Cuối cùng, chương trình đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển. Việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được thực hiện qua hành động cập nhật, chuẩn hóa, kết nối dùng chung dữ liệu trẻ em với các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân, cũng như nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong việc thu thập, chia sẻ dữ liệu về trẻ em có nguy cơ hoặc đã bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi, xâm hại tình dục và lao động trẻ em.

Để bảo đảm tính thi hành, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá sẽ được thực hiện thường xuyên nhằm kịp thời xử lý nghiêm các vi phạm; định kỳ thu thập chỉ tiêu thống kê quốc gia, khảo sát thực trạng, sơ kết, tổng kết và biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực cho công tác bảo vệ trẻ em./.

Phan Anh