Công nghiệp văn hóa

Phát triển kinh tế di sản: Thành tựu, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trung Kiên 12:00 07/08/2026

Một trong những điểm mới, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là tiếp tục quan điểm “bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội và du lịch”; đồng thời, nâng lên một tầm cao mới: “phát triển kinh tế di sản”.

Tầm nhìn mới “phát triển kinh tế di sản” mở ra kỳ vọng bản sắc dân tộc không chỉ được gìn giữ mà còn là động lực tăng trưởng mạnh mẽ của đất nước thời gian tới, cũng là từng bước hiện thực hóa được mục tiêu biến di sản trở thành tài sản, nguồn lực trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời, thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc đưa văn hóa trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển đất nước bền vững.

thanglonghanoi2.jpg
Tour du lịch đêm "Giải mã Hoàng thành Thăng Long" tại Khu di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm.

Nguồn lực vàng” trong thu hút du khách và tạo ra giá trị kinh tế

Thạc sỹ Đặng Huyền My (Khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị khu vực IV) cho biết, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế di sản nhờ sở hữu nguồn tài nguyên di sản phong phú, đa dạng và giàu bản sắc. Xét về nguồn tài nguyên di sản, Việt Nam hiện có khoảng hơn 40.000 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được kiểm kê, lập danh mục theo quy định của Luật Di sản văn hóa.

Trong đó, có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận, 130 di tích quốc gia đặc biệt, 3.621 di tích quốc gia, hơn 10.000 di tích cấp tỉnh; khoảng 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê trên địa bàn cả nước, 498 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, 15 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh tại các danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. UNESCO đã ghi danh 9 di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới.

Bên cạnh đó, với sự đa dạng văn hóa của 54 dân tộc với nhiều loại hình phong phú, độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc như: lễ hội, dân ca, dân vũ, tri thức dân gian, phong tục, tập quán, nghề thủ công… tạo nên một “kho tàng văn hóa sống” có giá trị đặc biệt cho phát triển các ngành kinh tế dựa trên di sản. Đây chính là nền tảng quan trọng hình thành nguồn “vốn văn hóa” dồi dào - yếu tố cốt lõi của kinh tế di sản.

Không chỉ dừng ở tiềm năng về tài nguyên, kinh tế di sản ở Việt Nam còn có điều kiện thuận lợi để phát triển nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành du lịch - lĩnh vực gắn bó trực tiếp với khai thác di sản. Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam tăng trưởng và phát triển ấn tượng, với hàng chục triệu lượt khách mỗi năm và tổng thu từ du lịch đạt hàng trăm nghìn tỷ đồng.

Tính riêng năm 2024, tổng thu từ khách du lịch ước đạt khoảng 840 nghìn tỷ đồng, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2023. Đặc biệt, năm vừa qua đánh dấu một cột mốc lịch sử khi Việt Nam chính thức ghi tên mình vào bản đồ những điểm đến phục hồi mạnh mẽ nhất của du lịch thế giới.

hue.jpg
Quảng diễn "Việt Phong Hội Tụ" tại Kinh thành Huế, TP Huế. (Tháng 7/2026).

Lần đầu tiên, Việt Nam ước tính đón 22 triệu lượt khách quốc tế và 135 triệu lượt khách nội địa. Với tổng thu từ du lịch đạt một triệu tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2024, du lịch Việt Nam đã phục hồi hoàn toàn, không chỉ về số lượng khách mà cả về chất lượng và hiệu quả kinh tế. Qua đó, ngành du lịch đã được nhìn nhận là một “đường dẫn” tăng trưởng, lan tỏa sang thương mại, vận tải, lưu trú, ẩm thực, văn hóa và công nghiệp sáng tạo.

Những kết quả này cho thấy di sản đang trở thành “nguồn lực vàng” trong việc thu hút du khách và tạo ra giá trị kinh tế. Đồng thời, các loại hình kinh tế di sản như du lịch cộng đồng, làng nghề truyền thống, nghệ thuật biểu diễn, bảo tàng… cũng đang từng bước được khai thác và mở rộng, góp phần đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao giá trị gia tăng.

Kinh tế di sản đang trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế

Ở cấp độ địa phương, kinh tế di sản đang trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Tại Hội An, mô hình “di sản đô thị sống” đã giúp địa phương nhận được 81 danh hiệu du lịch trong hơn 10 năm qua. Năm 2024, đô thị cổ này đón 4,4 triệu lượt du khách. Giai đoạn từ 2012 đến giữa 2025 đã có 17,4 triệu lượt khách mua vé tham quan (3,3 triệu lượt khách nội địa và 14 triệu khách nước ngoài). Doanh thu từ bán vé tham quan khu di sản đạt trên 1.901 tỉ đồng.

Tương tự, Huế với quần thể di tích cung đình, năm 2024, ngành du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) đón gần 3,9 triệu lượt khách. Riêng Quần thể Di tích Cố đô Huế đón 2,77 triệu lượt khách, trong đó, khách quốc tế đạt hơn 1,26 triệu lượt. Nguồn thu từ bán vé tham quan di tích hơn 422 tỉ đồng. Quảng Ninh với hệ thống di sản thiên nhiên và văn hóa đa dạng, mang giá trị đặc sắc, năm 2025, chỉ đến tháng 11, tổng lượng khách du lịch đến Quảng Ninh đạt 21,28 triệu lượt khách doanh thu du lịch ước đạt 57.000 tỷ đồng và hoàn thành sớm mục tiêu đón trên 21 triệu lượt khách đã đề ra trong năm 2025.

Trong khi đó, Thủ đô Hà Nội - địa phương có nguồn di sản văn hóa đồ sộ và phong phú nhất cả nước lại khai thác di sản theo hướng gắn với công nghiệp văn hóa. Năm 2025, ngành Du lịch Thủ đô đã đón và phục vụ trên 33,7 triệu lượt khách, trong đó đón trên 7,82 triệu lượt khách quốc tế và trên 25,88 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch ước đạt trên 134,46 nghìn tỷ đồng.

Sau 10 năm được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An (tỉnh Ninh Bình) thực đã trở thành trung tâm thúc đẩy phát triển và khẳng định vị trí du lịch Ninh Bình trên bản đồ du lịch trong nước và quốc tế, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh và bền vững của tỉnh cũng như cả nước. Vài năm trở lại đây, du lịch Ninh Bình trung bình đón khoảng 7,5 triệu lượt khách, thu 7.000 - 8.000 tỷ đồng.

so_du_lich_hn.jpg
Thủ đô Hà Nội thời gian qua đã được nhận nhiều giải thưởng Du lịch thế giới. (Ảnh tư liệu Lễ trao giải thưởng Du lịch thế giới khu vực châu Á và châu Đại Dương lần thứ 30 tại TP Hồ Chí Minh).

Một yếu tố quan trọng khác là tư duy đổi mới và bối cảnh chính sách ở Việt Nam đang ngày càng thuận lợi cho phát triển kinh tế di sản. Đảng và Nhà nước ta đã xác định văn hóa là nền tảng, đồng thời là nguồn lực nội sinh cho phát triển, trong đó nhấn mạnh yêu cầu gắn kết giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế và xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa.

Mặt khác, quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng giúp Việt Nam có cơ hội quảng bá di sản, thu hút đầu tư và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển. Việt Nam liên tục được vinh danh là điểm đến di sản hấp dẫn trên thế giới cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia trên bản đồ du lịch toàn cầu.

Những năm gần đây, Việt Nam liên tục nhận được các giải thưởng của Du lịch thế giới, tiêu biểu như: “Điểm đến hàng đầu châu Á”, “Điểm đến di sản hàng đầu châu Á”, “Điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á”; “Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới”... cùng nhiều giải thưởng dành cho các điểm đến, địa phương.

Những giải thưởng và sự vinh danh của cộng đồng du lịch quốc tế là cơ hội, động lực để du lịch Việt Nam tiếp tục nỗ lực xúc tiến, quảng bá những giá trị nổi bật, đưa hình ảnh Việt Nam lan tỏa rộng rãi, thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến quốc gia hình chữ S.

Hiệu ứng lan tỏa và hướng đi hiệu quả hơn

Bên cạnh đóng góp về tăng trưởng, kinh tế di sản còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ sang các lĩnh vực khác. Sự phát triển của khoa học - công nghệ, đổi mới - sáng tạo và kinh tế số đang mở ra không gian mới cho kinh tế di sản.

Các hoạt động số hóa di sản, xây dựng bảo tàng ảo, phát triển sản phẩm văn hóa số và truyền thông số giúp mở rộng khả năng tiếp cận di sản, giúp cho di sản vượt qua giới hạn không gian và thời gian, đồng thời, tạo điều kiện để phát triển ngành “công nghiệp văn hóa” đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới và nước ta hiện nay.

Khi kinh tế thế giới đã phát triển sang nền kinh tế tri thức và kinh tế số, với mô hình phát triển kinh tế ít phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà dựa chủ yếu vào tính sáng tạo và năng lực quản lý đòi hỏi mỗi quốc gia cần nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn về tài nguyên văn hóa, nguồn lực con người và phát huy nhân tố văn hóa, con người cho sự phát triển bền vững.

disan24.jpg
Du khách trải nghiệm công nghệ Leap motion (điều khiển chuyển động 3D) trong tour du lịch đêm chủ đề "Tinh hoa đạo học" tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, TP Hà Nội. (Ảnh: Viết Thành).

Nhận thức rõ điều đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách, tăng cường các nguồn lực thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Trong đó, lĩnh vực du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và thủ công mỹ nghệ gắn bó trực tiếp với kinh tế di sản - được coi là những ngành trọng tâm, trọng điểm. Kết quả, giai đoạn 2018-2022, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp vào giá trị gia tăng của nền kinh tế trung bình từ 4,04 đến 6,02%.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp vào nền kinh tế đạt 7% và đến năm 2045 đạt mục tiêu 9%. Đồng thời, trong định hướng tổng thể phát triển của Việt Nam giai đoạn 2030 - 2045, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu: “xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính”. Đây chính là định hướng, nền tảng quan trọng cho thúc đẩy ngành kinh tế di sản ở nước ta.

Để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế di sản ở nước ta, Thạc sỹ Đặng Huyền My cho rằng chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách cho phát triển kinh tế di sản; gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn và khai thác theo hướng bền vững. Đồng thời, chúng ta cần đa dạng hóa các sản phẩm và phát triển thị trường kinh tế di sản theo hướng chuyên nghiệp và có giá trị gia tăng cao; ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành điều kiện tiên quyết, động lực cho kinh tế di sản.

Ngoài ra, phải đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực kinh tế di sản, cũng như tăng cường vai trò của cộng đồng và bảo đảm cơ chế chia sẻ lợi ích. Và cuối cùng, chúng ta cần đẩy mạnh hợp tác quốc tế và liên kết vùng để phát triển kinh tế di sản Việt Nam trong kỷ nguyên mới, thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung theo hướng cân bằng và bền vững hơn./.

Trung Kiên