Đánh thức di sản, tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách, Uỷ ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ, Hà Nội là nơi mỗi bước chân đều có thể chạm vào lịch sử, mỗi tên phố, tên làng, mái đình, mặt hồ, nếp nhà, câu hát, món ăn, làn điệu, nghề thủ công đều có thể kể một câu chuyện về chiều sâu văn hiến của dân tộc. Nhưng trong kỷ nguyên mới, câu hỏi đặt ra không chỉ Hà Nội có bao nhiêu di sản, bao nhiêu văn nghệ sĩ, trí thức, không gian ký ức, mà là làm thế nào để những giá trị ấy trở thành nguồn lực phát triển, thành sức mạnh mềm, thành động lực sáng tạo, thành năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây là thời điểm Hà Nội cần một bước chuyển rất quan trọng: chuyển từ nhận thức “văn hóa là nền tảng tinh thần” sang hành động “văn hóa là nguồn lực phát triển”; chuyển từ bảo tồn di sản như gìn giữ ký ức sang phát huy di sản như một tài sản sáng tạo; chuyển từ tổ chức hoạt động văn hóa đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa có khả năng đóng góp thực chất vào tăng trưởng, nâng cao chất lượng sống và định vị thương hiệu Thủ đô.

Nghị quyết số 09-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa đã xác định rõ tầm nhìn đến năm 2045, với mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp ngày càng cao vào GRDP của thành phố, hướng tới khoảng 10% vào năm 2045. Nghị quyết này cũng đặt công nghiệp văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống, phát triển hạ tầng văn hóa, mở rộng giao lưu quốc tế và xây dựng Hà Nội trở thành Thành phố sáng tạo.
Cùng với đó, những cơ chế đặc thù trong Luật Thủ đô tạo thêm cơ sở để Hà Nội thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và triển khai các mô hình thử nghiệm có kiểm soát. Nếu được cụ thể hóa và vận dụng hiệu quả, đây sẽ là “đường băng thể chế” để văn hóa Hà Nội phát triển tương xứng với tiềm năng.
Đưa di sản trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo và nguồn lực phát triển
Khác với nhiều đô thị, di sản Hà Nội không chỉ nằm trong bảo tàng hay các công trình đã được xếp hạng mà hiện diện sinh động trong đời sống hằng ngày. Di sản nằm ở Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phố cổ, làng cổ, làng nghề, hồ Gươm, sông Hồng; nằm trong tiếng rao, mâm cỗ, nếp thanh lịch, trong những thói quen ứng xử tưởng như bình dị nhưng làm nên cốt cách người Hà Nội
Tuy nhiên, sự gần gũi và quen thuộc đôi khi khiến những giá trị kinh tế, xã hội và sáng tạo của di sản chưa được nhận diện đầy đủ. Không ít di sản được bảo vệ nhưng chưa được kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại mới. Nhiều không gian văn hóa chưa kết nối hiệu quả với du lịch, giáo dục, điện ảnh, mỹ thuật, thời trang, ẩm thực, thiết kế, trò chơi số và công nghệ trải nghiệm. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ và trí thức đang nắm giữ những tri thức quý giá nhưng chưa có điều kiện tham gia sâu vào chuỗi giá trị sáng tạo của thành phố.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, phát huy di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa một cách dễ dãi, càng không thể đánh đổi chiều sâu văn hóa để tạo ra những sản phẩm nhất thời. Phát huy di sản phải bắt đầu từ sự tôn trọng lịch sử, tôn trọng cộng đồng sở hữu di sản, tôn trọng nghệ nhân, tôn trọng tính nguyên bản và phẩm giá văn hóa của di sản.
Một di sản nếu chỉ được giữ trong hồ sơ, bia đá, tủ kính, mà không đi vào đời sống đương đại, không trở thành cảm hứng cho thế hệ trẻ, không tạo nên sản phẩm mới, không nuôi dưỡng năng lực sáng tạo mới, thì di sản ấy mới chỉ được bảo tồn ở trạng thái tĩnh. Hà Nội cần một tư duy bảo tồn động: bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn tốt hơn.
Từ hoa văn kiến trúc cổ có thể phát triển thiết kế đương đại. Từ làng nghề có thể hình thành sản phẩm thủ công cao cấp. Từ ẩm thực Hà Nội có thể tạo ra thương hiệu trải nghiệm văn hóa. Từ lịch sử Thăng Long có thể phát triển phim ảnh, sân khấu, trình diễn thực cảnh, sản phẩm giáo dục, trò chơi số, bảo tàng số. Từ các không gian như hồ Gươm, sông Hồng, phố cổ, làng cổ, các thiết chế văn hóa có thể hình thành mạng lưới sáng tạo đặc trưng của Hà Nội.
Để hiện thực hóa cam kết đó, các chương trình phát huy di sản phải được triển khai theo hướng liên ngành. Văn hóa, du lịch, công nghệ, giáo dục và thiết kế không thể hoạt động tách rời. Di sản chỉ có thể trở thành tài sản sáng tạo khi được đặt trong một hệ sinh thái có sự tham gia của cơ quan quản lý, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp, trường đại học và cộng đồng.
Hà Nội cần cơ chế đặt hàng, thử nghiệm và bảo vệ sáng tạo
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay không phải là Hà Nội thiếu ý tưởng, mà là thiếu cơ chế để ý tưởng đi đến cùng. Rất nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, nhà thiết kế, nhà làm phim, người làm công nghệ, doanh nghiệp sáng tạo có ý tưởng tốt, nhưng gặp khó khi tiếp cận không gian, nguồn vốn, thủ tục, bản quyền, dữ liệu, quảng bá, cơ chế phối hợp công - tư, cơ chế đặt hàng và cơ chế thử nghiệm.

Phát triển công nghiệp văn hóa đòi hỏi phương thức quản trị hài hòa giữa tự do sáng tạo và chuẩn mực xã hội; giữa khuyến khích thử nghiệm và bảo đảm trách nhiệm; giữa mở đường cho cái mới và gìn giữ bản sắc. Nếu quản lý cứng nhắc theo lối hành chính, không gian sáng tạo sẽ bị thu hẹp. Ngược lại, nếu thiếu định hướng và kiểm soát phù hợp, thị trường có thể chạy theo lợi ích ngắn hạn, làm tổn thương các giá trị văn hóa.
Từ thực tế đó, Hà Nội cần một cơ chế đặt hàng văn hóa mới. Thành phố có thể đặt hàng các tác phẩm nghệ thuật lớn về Hà Nội trong kỷ nguyên mới; các chương trình biểu diễn định kỳ tại không gian di sản; các sản phẩm du lịch đêm có chiều sâu văn hóa; các dự án mỹ thuật công cộng; các bộ phim, vở diễn, triển lãm, sách, sản phẩm số về lịch sử và con người Hà Nội; các thiết kế nhận diện Thủ đô…
Bên cạnh đó, Hà Nội cũng cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình văn hóa mới, như tuyến phố sáng tạo, chợ thiết kế, bảo tàng đêm, tour di sản ứng dụng công nghệ, lễ hội ánh sáng, trình diễn thực cảnh, trung tâm sáng tạo trong các nhà máy cũ và không gian văn hóa ven sông Hồng. Cần chính sách bảo vệ người dám làm trong lĩnh vực văn hóa. Sáng tạo luôn có rủi ro. Không có rủi ro thì không có đột phá. Nếu cán bộ sợ sai, doanh nghiệp sợ thủ tục, nghệ sĩ sợ bị hiểu lầm, nhà đầu tư sợ thiếu ổn định chính sách, thì công nghiệp văn hóa rất khó phát triển nhanh.
Đặc biệt, Hà Nội cần xem đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức không chỉ là đối tượng được lắng nghe, tôn vinh, mà là chủ thể đồng kiến tạo chính sách. Những người làm văn hóa hiểu rất rõ tâm lý công chúng, đời sống sáng tạo, sự vận động của thị hiếu, những cơ hội và rủi ro trong thực tiễn. Trí thức hiểu quy luật phát triển, cơ sở khoa học, kinh nghiệm quốc tế, yêu cầu thể chế. Nếu biết kết nối hai nguồn lực này với chính quyền và doanh nghiệp, Hà Nội sẽ có một “hội đồng trí tuệ mềm” rất mạnh cho phát triển công nghiệp văn hóa.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, để công nghiệp văn hóa phát triển, Hà Nội cần một thông điệp chính sách rất rõ: Thành phố tin vào sáng tạo, đặt hàng sáng tạo, bảo vệ sáng tạo, đầu tư cho sáng tạo và chấp nhận thử nghiệm có trách nhiệm vì sáng tạo.
Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Nghị quyết 09-NQ/TU đã định hình 13 lĩnh vực công nghiệp văn hóa Hà Nội tập trung triển khai, gồm du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, quảng cáo, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, điện ảnh, thời trang, ẩm thực, phần mềm và trò chơi giải trí, truyền hình và phát thanh, xuất bản. Đây là một cách tiếp cận đúng, bởi công nghiệp văn hóa không nằm ở một ngành riêng biệt, mà là sự giao thoa giữa văn hóa, nghệ thuật, công nghệ, du lịch, giáo dục, thương mại, truyền thông và đô thị.

Thách thức của Hà Nội hiện nay là làm thế nào để các lĩnh vực ấy không phát triển rời rạc. Một lễ hội nếu chỉ là sự kiện thì kết thúc sau vài ngày. Một tour du lịch nếu chỉ là tham quan thì khó tạo giá trị cao. Một làng nghề nếu chỉ bán sản phẩm truyền thống thì khó cạnh tranh. Một không gian sáng tạo nếu thiếu kết nối với giáo dục, doanh nghiệp, công nghệ và thị trường thì dễ trở thành phong trào. Một di tích nếu chỉ mở cửa đón khách ban ngày thì chưa khai thác hết tiềm năng trải nghiệm văn hóa.
Vì vậy, Hà Nội cần tư duy chuỗi giá trị. Một sản phẩm công nghiệp văn hóa thành công không chỉ là một tác phẩm hay một sự kiện, mà là cả hệ thống phía sau: ý tưởng, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, biểu diễn, truyền thông, phân phối, bản quyền, thương mại hóa, giáo dục công chúng và tái đầu tư sáng tạo. Muốn vậy, phải có cơ quan điều phối đủ mạnh, cơ chế phối hợp liên ngành đủ linh hoạt, chính sách công - tư đủ hấp dẫn và dữ liệu văn hóa đủ mở để các chủ thể cùng tham gia.
Kinh tế ban đêm là một ví dụ điển hình. Hà Nội không nên chỉ kéo dài thời gian mua bán, ăn uống và vui chơi, mà cần hình thành nền kinh tế văn hóa về đêm với các chương trình nghệ thuật, trải nghiệm di sản, ẩm thực thanh lịch, thủ công mỹ nghệ, thiết kế sáng tạo, công nghệ ánh sáng, không gian đi bộ và phong cách ứng xử văn minh.
Tương tự, sông Hồng có thể trở thành một trục sáng tạo mới; các cơ sở công nghiệp cũ có thể được chuyển đổi thành trung tâm nghệ thuật, thiết kế và khởi nghiệp văn hóa; làng nghề trở thành “trường học sống” về mỹ học truyền thống, du lịch trải nghiệm và thiết kế ứng dụng. Các trường đại học cần đóng vai trò trung tâm nghiên cứu, ươm tạo ý tưởng và kết nối sinh viên với doanh nghiệp sáng tạo. Báo chí, truyền thông không chỉ phản ánh hoạt động mà còn góp phần kiến tạo thị trường và quảng bá thương hiệu văn hóa Hà Nội.
Để từng bước hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề xuất Hà Nội xây dựng bản đồ công nghiệp văn hóa Thủ đô. Bản đồ này cần nhận diện đầy đủ hệ thống di sản, làng nghề, không gian sáng tạo, nghệ nhân, nghệ sĩ, doanh nghiệp, trường đại học, thiết chế văn hóa, hạ tầng số, nhu cầu thị trường và khả năng liên kết của từng khu vực.
Thành phố cần hình thành các cụm công nghiệp văn hóa đặc thù, chẳng hạn cụm di sản - du lịch - trải nghiệm tại khu vực trung tâm lịch sử; cụm thiết kế - thời trang - nghệ thuật đương đại tại các không gian sáng tạo; cụm làng nghề - thủ công mỹ nghệ - du lịch cộng đồng ở ngoại thành; cụm công nghệ số - trò chơi - nội dung sáng tạo gắn với các trường đại học và doanh nghiệp công nghệ.
Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa. Hà Nội có rất nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, nghệ sĩ, chuyên gia, nhưng còn thiếu những nhân lực lai ghép: người hiểu văn hóa và biết kinh doanh; người hiểu di sản và biết công nghệ; người làm nghệ thuật và biết bản quyền; người làm quản lý và hiểu thị trường sáng tạo. Đây phải là một ưu tiên chiến lược.

Xây dựng thương hiệu “Hà Nội sáng tạo” bằng những sản phẩm cụ thể. Thương hiệu không thể chỉ được tạo ra bằng khẩu hiệu. Thương hiệu phải đến từ những trải nghiệm mà người dân, du khách, nhà đầu tư, nghệ sĩ quốc tế có thể cảm nhận: một lễ hội thiết kế có đẳng cấp, một tour đêm độc đáo, một không gian sáng tạo có đời sống thường xuyên, một sản phẩm thủ công tinh tế, một bộ phim hay về Hà Nội, một tuyến phố văn hóa có bản sắc, một hệ thống bảo tàng số hấp dẫn, một phong cách ứng xử đô thị văn minh.
“Hà Nội không thiếu di sản. Hà Nội không thiếu tài năng. Hà Nội không thiếu chiều sâu văn hiến, không thiếu tình yêu của văn nghệ sĩ, trí thức và nhân dân dành cho Thủ đô. Điều Hà Nội cần lúc này là một quyết tâm đủ mạnh, đủ tin cậy và đủ hiệu quả để biến những nguồn lực ấy thành sức mạnh phát triển” - PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Khi di sản được đánh thức bằng trí tuệ, khi nghệ sĩ và trí thức được trao cơ hội đồng hành, khi chính sách biết mở đường cho cái mới, khi người dân được thụ hưởng và tham gia sáng tạo, thì văn hóa không chỉ soi sáng tâm hồn Hà Nội, mà còn trở thành động lực đưa Thủ đô phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và nhân văn hơn. Đó cũng là cách để Hà Nội không chỉ tự hào về quá khứ nghìn năm, mà còn tự tin kiến tạo tương lai nghìn năm tiếp theo./.