Truyện

Nửa chân trời trong sương

Truyện ngắn của Vũ Ngọc Giao 08:39 04/08/2026

Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.

Minh họa của Nguyễn Văn Đức

Mỗi sớm mai từ lưng chừng đồi nhìn xuống, làng tôi chìm trong sương, che khuất một nửa chân trời. Sương từ mặt nước trườn lên trắng xóa lối đi, quẩn quanh bờ tre, phủ kín những nếp nhà ngói cũ. Có những hôm sương dày đến nỗi, từ đầu ngõ không cách gì nhìn thấy hàng thầu đâu bên bến.

Tuổi thơ tôi lớn lên cùng tiếng nước vỗ bờ, cùng những chuyến đò ngang lững lờ qua sông. Sáng nào thức giấc tôi cũng đã thấy nội mở cánh cửa gỗ phía hè sau, cánh cửa mục bạc màu thời gian, chằng chịt những vết khắc theo năm tháng, mà sau này tôi mới hiểu ra: mỗi mùa trăng, nội lại khắc lên cánh cửa một khấc, để đánh dấu số mùa trăng chú tôi xa nhà.

Mỗi ngày, nội qua sông bằng con đò của ông Mương bên bến, cũng có khi nội cho tôi theo cùng. Lần nào nội cũng kể, hai lần sinh nở cha và chú tôi là hai lần đều mắc nước lụt. Đêm chú tôi ra đời, lũ đột ngột về trên sông nhấn chìm cả làng trong biển nước, cha tôi ngày đó mới bốn tuổi đã khôn, thấy nội ôm bụng quằn quại trên chiếc giường nước đã lên xăm xắp, cha mò mẫm lội ra đường khóc thiệt to, kêu bà con chòm xóm qua đưa nội đi đẻ. Mấy bà hay tin lật đật chạy qua gỡ chiếc ghe nan treo trên giàn, vật lộn với nước lũ rồi cũng đưa được nội tới trạm xá trong đêm, gần tới nơi chú tôi đã lọt ra, mặt mũi xanh dớt nhăn nhúm như con mèo lội nước lụt. Nội tôi đặt chú tên Ân để nhớ cái ân tình xóm làng đã giúp đỡ lúc nguy nan.

Chú tôi trước ngày vào quân ngũ đã thương thầm một cô gái trong làng. Cô Nhàn không hẳn đẹp nhưng duyên, vẻ mặn mòi khiến ai cũng muốn nhìn lâu và dừng lại trên đôi mắt tuyền một màu đen như mặt hồ rêu phủ. Ngày chú tôi nhập ngũ, cô đưa chú qua sông, đò quay về cô còn lơ ngơ trên bến. Cô Nhàn mất mẹ, về ở cùng ông bà trong căn nhà cuối làng, thỉnh thoảng cô lại kiếm cớ qua với nội tôi, có khi súc mấy cái lu hứng nước mưa, lúc lại vô buồng xúc vài ang lúa đi xay khi bồ hết gạo. Cô lẳng lặng làm mọi thứ như thể một người con dâu của nội. Nội tôi ngồi bên hiên rưng rưng nhìn bóng cô ra ngõ. Tôi biết, nội nhớ chú Ân, có khi nước mắt ứa ra, nội len lén đưa ngón tay quệt đi nhưng những giọt nhớ vẫn chảy ra không dừng.

Chú Ân đi biền biệt không về, thân xác gửi lại nơi nao nội tôi chẳng được hay. Chiều chiều nội ra bến, mắt đăm đắm nhìn qua bên kia như đợi như chờ. Vào cái buổi chiều chú tôi đi, bãi bồi vắng hoe, lấp lóa ánh mặt trời phản chiếu xuống lòng sông lờ mờ những bụi bờ rậm rịt, phía chân trời, mây hừng lên một quầng ráng đỏ. Đò qua bến bên kia, chú còn quay lại nhìn nội, bàn tay đưa lên vẫy vẫy. Từ ngày đó đêm đêm cô Nhàn lại lặng lẽ ra sông, cô nhìn sông và hát, vẫn bài hát ngày chú tôi chưa đi xa. Có lần nội tôi kéo cô lại, ấp hai bàn tay cô vô ngực thủ thỉ “Lấy chồng đi con, đám trai làng mình để bụng thương con, đường nào thì thằng Ân cũng không về nữa, nhìn con như vầy, má xót!”. Cô Nhàn chỉ cười, khóe miệng lún sâu một hột gạo thiệt duyên.

Ngày còn nhỏ, chiều nào cũng vậy, từ bến sông tiếng cắc bụp vọng vào, tôi lại lật đật băng qua vạt cỏ lau, theo lối mòn ven cánh đồng hướng ra sông. Cô Nhàn cột ghe vô cây sào, gỡ nón phe phẩy quạt mồ hôi. Lần nào nghe tiếng chân tôi cô cũng ríu rít kéo tôi ngồi xuống kể chuyện, vừa kể cô vừa móc trong túi áo ra cho tôi, khi con tò he hình công chúa, lúc con châu chấu bằng lá dừa. Tôi ngồi bên cô hít hà mùi thơm ngọt ngào từ ngực áo cô thoảng ra, cái mùi đã ru tôi vào những giấc mơ đêm, loang cả vào một triền sông lộng gió. “Sao mà cô lúc nào cũng thơm?”, có lần tôi hỏi. Cô Nhàn cười, gương mặt ưng ửng đỏ “Tại chú Ân thích mùi hoa dẻ”. Sau này lớn lên tôi mới biết, đêm nào đi ngủ cô cũng ướp hoa dẻ vào ngực áo, sâu thẳm trong cô vẫn nuôi một niềm hy vọng mong manh rằng chú tôi sẽ trở về, dù có bom đạn tật nguyền, chú tôi cũng sẽ trở về.
Lần nào tôi về, cô Nhàn cũng đứng trông theo. Chiều nhập nhoạng nghiêng về tối, bầy chim qua sông muộn màng, tiếng kêu xao xác cả một khúc sông. Bao nhiêu năm trong ký ức một thuở hoa niên tươi đẹp tôi luôn mang theo hình bóng cô Nhàn gầy gầy đứng bên bến với cây sào cô độc cắm vào lòng sông.

* * *

Nội tôi khăn gói lên đường tìm chú Ân. Cô Nhàn đưa nội ra bến trong trời chiều nhập nhoạng. Hơn nửa tháng trời nội đi, không đêm nào tôi ngủ được, tôi nằm nghe từ ngoài bến vọng vào tiếng sóng. Cũng như tôi, cô Nhàn đợi ngày nội về với hy vọng mong manh được nhìn thấy chút hình hài sau cuối của chú Ân. Tôi nằm nghe tiếng mưa rào rạt bên triền sông chao nghiêng những cánh nhạn trắng xuôi theo con nước bay về. Tôi mơ thấy cuối đường dáng chú tôi cao gầy liêu xiêu trở về trên đôi chân khập khiễng giữa một triền hoa tím. Cô Nhàn chạy về phía chú giấu gương mặt ửng đỏ sau mớ tóc xổ tung mịt mù, tiếng cười loang cả bến sông heo hút. Cô dịu dàng tựa vào vai áo chú, đôi mắt hồ thu cứ ngời lên khi chú tôi cúi xuống thì thầm “Đợi anh có lâu không?”. Cô lắc đầu cười trong tiếng chim ríu rít bay về giữa đồng chiều. “Rồi tụi mình sẽ cất mấy chiếc bè nuôi tôm trên khúc sông này, em nuôi thêm đàn gà, trồng vài luống tần ô”. Trong giấc mơ tôi còn nghe tiếng cô Nhàn hát, tiếng hát rải vào triền sông như tiếng hò trong đêm vắng.

Nội tôi trở về, thất thểu như người bại trận, cái túi vải móp xọp phơ phất trên cánh tay già nua, quắt quéo. Nội ngồi phịch bên bậu cửa thở hắt ra, tiếng thở nghe nhoi nhói, buồn thiu. Ngoài đồng xa sương chiều âm u khiến tôi không phân biệt được đâu là bảng lảng của khói, đâu là bàng bạc của sương. Cô Nhàn nghe tin nội về liền chạy qua, từ ngoài ngõ nhìn thấy nội thẫn thờ, cô lặng lẽ đi vào, những ngón tay không thôi vân vê vạt áo. Nội ngước nhìn cô, những buồn thương chất chứa trong đôi mắt đó khiến tôi không dám nhìn lâu. Cô Nhàn se sẽ ngồi xuống bên nội, bàn tay thô sần ấp lấy tay nội “Má đừng khóc mà! Qua tháng sạ xong đám ruộng con sẽ đưa má đi tìm anh Ân, rồi anh sẽ về… sẽ về. Ảnh từng nói, đi đâu cũng muốn quay về, về làng mình để sớm mai ra sông nghe chiền chiện hót”.

Trời chiều khô héo. Bờ cỏ dại bên triền sông rũ xuống sau cơn lanh lảnh nắng, đêm ấy mưa về bất chợt, đám cỏ đuôi chồn ven sông bật cong tím ngát. Chú tôi đi, từ mùa hoa ấy không về. Đó là một đêm cuối tháng Tư. Nội tôi hết khóc lại cười, chỉ cô Nhàn vẫn vững vàng với miệng cười lấp lóa “Anh Ân đã hứa rồi, sẽ về, hẹn con chỗ khúc sông ni, bên chân cầu có cành si rũ xuống, chỉ là ảnh còn lang thang đâu đó thôi, má à!”. Ngày chú tôi đi, chỉ một lời hẹn ước, không cau trầu, không vòng vàng nhẫn xuyến, cũng là ngày nội tôi xưng má, gọi cô Nhàn bằng con. Cô Nhàn ứa nước mắt ôm nội “Từ rày con có má rồi, hơn hai mươi năm con chưa được một lần kêu tiếng má, má con đi, tới một cái hình để lại cũng không”.
Tôi nằm vật bên triền sông giữa đám cỏ sau mưa xộc lên mùi ngai ngái. Lẽ nào chú tôi đi mãi không về mặc nội tôi hết ngóng lại tìm, mặc cô Nhàn đêm đến lại ngồi trước tivi đợi chương trình tìm người thân…

Lại một mùa lau trắng khẽ bừng lên trong sớm mai giăng giăng mưa bụi, những cánh chim nhàn kéo về trắng cả một khúc sông, lướt qua những tầng mây chiều. Đêm đêm, trên bến vắng tiếng chân người lại lặng lẽ lướt đi trên cát. Trăng khuya mênh mang, càng lúc càng trong, trăng lạnh như sương đổ xòa xuống triền sông, bóng cô Nhàn một mình chênh vênh trên bến, ngóng về phía chân trời…

Mười năm. Thời gian đủ để nguôi ngoai những nỗi đau.
Tôi mười tám tuổi, lên thành phố trọ học. Nửa năm sau tôi hay tin cô Nhàn lấy chồng. Một cuộc hôn nhân muộn màng. Chồng cô người làng bên, hiền lành, tháo vát, người đã đợi cô bao nhiêu năm ròng. Ngày cưới cô, tôi vội vàng trở về để được nhìn thấy cô mặc áo cô dâu… Tôi đứng giữa đám đông lao xao nhìn mái tóc cô được cài lên một nhành hoa trắng, mái tóc đã bắt đầu điểm sương khiến tôi không khỏi rưng rưng. Vẫn miệng cười lún sâu một hột gạo, vẫn đôi mắt đen như mặt hồ rêu phủ nhưng giờ đã vương vất vài vệt sương giăng…

Tôi trở lại thành phố, công việc cuốn trôi miệt mài, làng quê ngày một xa tít tắp. Lần nào về tôi cũng nghe má kể chuyện. Chuyện cô Nhàn lấy chồng giờ không còn ra bến, chỉ ở nhà phụ chồng quản lý xưởng mây tre, chuyện vợ chồng cô khấm khá và êm ấm với đứa con gái lên ba.

Nghỉ hè, tôi về thăm quê. Mảnh vườn thênh thang vắng từ ngày nội không còn nữa. Chiều xuống tôi lang thang ra sông, chợt nhớ cô Nhàn hơn bao giờ. Tôi chạy ngược luồng gió nghe từng lớp nước táp vào triền sông ì oạp, tiếng lóc bóc vỗ vào mạn thuyền làm vỡ không gian đang tĩnh. Bóng ai như cô Nhàn đang vùi mặt vào mớ tóc trải dài trên cỏ giữa cơn gió luênh loang. Tôi chợt nhận ra, dòng chảy của sông giờ đã khác xưa, đã ăn mòn đôi bờ nên sông càng mênh mang, thăm thẳm…

“Lem về đó sao?”. Không ngẩng lên nhìn tôi, tiếng cô bạt đi trong tiếng gió chiều vụt về trên sông chấp chới. “Sao giờ này cô còn ở đây?”. Tôi nghe lòng quặn lên nỗi niềm thương khôn cùng khi nhìn cô chơ vơ giữa một triền hoa tím trong chiều tắt nắng. Cô Nhàn đưa tay chỉ qua bên kia sông “Lem có nhìn thấy gì không?”.

Trong ráng chiều, mớ lục bình lững thững trôi về dưới vệt nắng cuối ngày đang hắt lên những quầng mây cam đỏ, sáng bừng, phản chiếu xuống mặt sông như những dải lụa đào. Tôi ngồi bên cô, ngước lên nền trời cao vời vợi, ở đó từng tầng mây rực rỡ kéo về. “Có những chuyện mai này lớn lên con sẽ hiểu”, tiếng cô rì rầm, nghe như từ lồng ngực trái tim đang thổn thức…

“Về thôi con!” cô nắm tay tôi chầm chậm đi trên con đường dầm chan màu hoa tím. Lặng lẽ nhìn qua, tôi nhận ra trên gương mặt mơ màng và kín đáo kia một đôi mắt vẫn thăm thẳm dưới cặp lông mày vòng nguyệt như nét vẽ. Từ cuối sông, một cánh bìm bịp vội vã bay trong ráng chiều chạng vạng, miệng ngậm mớ cỏ khô về xây tổ, trên cành cao kia một chú chim non đang ngóng đợi bóng mẹ về.

* * *

Mười năm.

Khi đã đi qua bao con phố đông người, qua bao ga tàu, bến bãi, qua bao cuộc chia ly của riêng mình, tôi mới hiểu điều cô Nhàn muốn nói trong buổi chiều năm ấy. Có những người ra đi, chẳng trở lại. Cũng có những người tuy không trở lại, nhưng mãi mãi vẫn còn đâu đó trong thẳm sâu một phần đời người ở lại.

Mùa lụt năm đó tôi trở về làng. Sông Yên đục ngầu phù sa, những bãi bồi ngày cũ đã đổi thay nhiều. Con đường ven sông được đổ bê tông, lũ trẻ không còn chạy chân đất như ngày tôi còn nhỏ, vậy mà những vạt hoa tím vẫn nở dọc triền sông như chưa từng biết đến những đổi thay đất trời.

Tôi chạy chân trần ra bến cũ.

Chiếc sào neo ngày xưa cô Nhàn vẫn neo con đò giờ chỉ còn một đoạn mục ruỗng nhô lên mặt nước. Cây si bên chân cầu cũng già đi, từng chùm rễ buông dài vào lòng sông. Bến vắng tanh, không có ai ngoài tôi và những cơn gió cát. Tôi nhìn sang bờ bên kia. Mặt sông loang loáng ánh hoàng hôn. Những đám lục bình tím nhạt lững thững trôi xuôi. Tôi lại nhớ đến nội. Nhớ ánh mắt mỏi mòn qua sông vào mỗi buổi hoàng hôn. Nhớ những vết khắc lặng lẽ trên cánh cửa gỗ bạc màu. Nhớ cô Nhàn của những năm tháng thanh xuân thơm mùi hoa dẻ, của những đêm trăng một mình bên bến vắng.

Và tôi chợt nhận ra, có lẽ chú Ân đã trở về từ rất lâu rồi. Chú tôi trở về trong những mùa hoa tím. Chú trở về trong tiếng hát cô Nhàn thả xuống mặt sông vào những đêm trăng. Chú trở về trong giọt nước mắt nội lặng lẽ quệt đi nơi hiên nhà. Và, chú trở về trong ký ức của những người còn thương, còn nhớ…

Cuối sông, đàn chim nhàn từ đâu bay về, những đôi cánh trắng chấp chới giữa vùng trời đỏ rực. Gió chiều ràn rạt thổi về mang theo mùi cỏ non và một thoáng hương hoa dẻ dịu dàng. Tôi ngước nhìn lên. Bên kia màn sương đang từ từ buông xuống, dường như có một bóng người cao gầy đang đứng bên bến cũ, mỉm cười đưa tay lên vẫy vẫy tôi.

“Chú Ân!”, tôi thầm gọi, dù biết đó chỉ là một đám mây chiều vụt qua ánh nắng cuối ngày. Lòng tôi bình yên đến lạ. Từ bờ bên kia, tiếng chuông chùa Mộc u trầm ngân lên. Dòng Yên vẫn lặng lẽ trôi, mang theo phù sa, mang theo những mùa thương nhớ, mang theo cả những lời hẹn ước đã đi suốt một đời người…

Truyện ngắn của Vũ Ngọc Giao