Phát huy giá trị nghệ thuật thị giác trong dòng chảy công nghiệp văn hóa
Từ những công trình nghệ thuật công cộng, không gian sáng tạo đến các dự án gắn với di sản, nghệ thuật thị giác đang góp phần định hình hình ảnh Hà Nội trong đời sống đương đại, đồng thời mở ra những giá trị mới cho công nghiệp văn hóa. Trong hành trình ấy, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ là những người sáng tạo tác phẩm mà còn là chủ thể kết nối di sản, cộng đồng và không gian đô thị, góp phần khơi dậy sức sống mới cho văn hóa Thủ đô.


Từ bao đời nay, Hà Nội không đơn thuần chỉ là trung tâm chính trị - hành chính của cả nước mà còn là cái nôi của sáng tạo nghệ thuật, nơi kết tinh và lan tỏa tinh hoa văn hóa Việt Nam. Trong ký ức đô thị ấy, dấu ấn của các văn nghệ sĩ Hà Nội đã góp phần kiến tạo nên bản đồ tinh thần của Thủ đô, một bản đồ được vẽ bằng sắc màu, giai điệu và ngôn từ. Bùi Xuân Phái với “Phố Phái” đã lưu giữ trong tranh hơi thở trầm mặc mà thanh tao của Hà Nội cũ; Văn Cao, Nguyễn Đình Thi hay Phú Quang bằng âm nhạc đã hóa thân thành tự sự của thành phố, nơi mỗi giai điệu là một lát cắt của ký ức tập thể.
Trong văn chương, Tô Hoài và Băng Sơn lại chọn cách kể những câu chuyện đời thường, ghi lại nếp sống, cốt cách và tâm hồn người Tràng An giữa những đổi thay của thời cuộc. Chính họ, những người nghệ sĩ của Hà Nội, đã tạo nên nền địa tầng văn hóa đặc thù, vừa cổ điển vừa hiện đại, vừa thâm trầm vừa tươi mới, làm nên bản sắc riêng không thể trộn lẫn của Thủ đô.
Hôm nay, khi Hà Nội hướng tới mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và khẳng định vị thế Thành phố sáng tạo trong mạng lưới của UNESCO, di sản tinh thần mà các thế hệ nghệ sĩ để lại chính là nguồn cảm hứng và nền tảng cho những sáng tạo mới. Câu chuyện về vai trò của nghệ thuật thị giác, với tư cách là ngôn ngữ tạo hình của đô thị và hạt nhân của kinh tế sáng tạo, vì thế cần được đặt tiếp nối trong dòng mạch ấy: từ giá trị đã được vun đắp bằng tâm huyết nghệ sĩ, đến sứ mệnh phát triển bền vững của văn hóa Thủ đô trong thời kỳ mới.


Vai trò của các nghệ sĩ càng quan trọng hơn, khi đặt vào trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên tri thức và sáng tạo, mà ở đó công nghiệp văn hóa đã trở thành một hướng đi chiến lược của nhiều quốc gia và được Nhà nước Việt Nam xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Các văn bản chỉ đạo quan trọng như Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 6/5/2009 phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng văn hóa, phát triển con người, và Quyết định số 1775/QĐ-TTg ngày 8/9/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã lần lượt khẳng định mục tiêu: phát huy tiềm năng văn hóa, lấy lợi thế sáng tạo cùng bản quyền trí tuệ để khai thác giá trị kinh tế của văn hóa.
Trên quy mô đô thị, Hà Nội tiếp nhận và cụ thể hóa tinh thần đó thông qua Kế hoạch số 112/KH-UBND ngày 29/5/2017 và Chương trình 06-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội (17/3/2021) với mục tiêu xây dựng con người Hà Nội thanh lịch, văn minh, đồng thời phát triển ngành công nghiệp văn hóa tương xứng với vị thế Thủ đô. Trong dòng chảy chính sách ấy, nghệ thuật thị giác không phải là lĩnh vực hàn lâm tách rời, mà là trụ cột hình thành bản sắc thị giác, không gian sáng tạo và giá trị mềm của đô thị; do vậy việc nhận diện, tôn vinh và khai thác vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô là một nội dung then chốt trong triển khai nhiệm vụ của Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội khóa XVIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030.

Nghệ thuật thị giác có vị trí đặc thù trong hệ thống công nghiệp văn hóa bởi tính hai mặt: vừa mang giá trị tinh thần, thẩm mỹ, vừa là nguồn lực kinh tế qua thiết kế, truyền thông thị giác, sản phẩm sáng tạo và nghệ thuật công cộng. Như một ngôn ngữ tạo hình chung, nghệ thuật thị giác giúp đô thị kết tinh bản sắc, tạo ra các điểm nhận diện thương hiệu, thúc đẩy du lịch sáng tạo và nâng cao chất lượng sống của cư dân.
Ở tầm đô thị sáng tạo, hình ảnh thành phố, từ bộ mặt phố phường, kiến trúc tới các sự kiện văn hóa phần lớn được tiếp nhận và ghi nhớ qua trải nghiệm thị giác; do đó, đầu tư vào nghệ thuật nghĩa là đầu tư vào năng lực kể chuyện của thành phố, bảo đảm Hà Nội vừa giữ được chiều sâu di sản Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến, vừa tiếp thu tinh hoa toàn cầu để đổi mới.
Đặt nghệ thuật thị giác vào vị trí trụ cột của công nghiệp văn hóa còn có ý nghĩa thực tiễn khi nó liên thông với các ngành thiết kế, thủ công, kiến trúc, thời trang và công nghiệp sáng tạo khác, tạo ra chuỗi giá trị có thể thương mại hóa, xuất khẩu và gia tăng việc làm cho lực lượng sáng tạo địa phương.
Văn nghệ sĩ Thủ đô, trong điều kiện ấy, đóng vai trò kép, vừa là tác giả của sản phẩm nghệ thuật, vừa kiến tạo môi trường sáng tạo. Họ không chỉ tạo ra tác phẩm, mà còn khơi mở không gian đối thoại giữa nghệ thuật và cộng đồng, kết nối các lực lượng xã hội, doanh nghiệp và cơ quan quản lý để hình thành các dự án mang tính công chúng cao. Nhiệm vụ ấy đòi hỏi nghệ sĩ vừa có năng lực chuyên môn, vừa có tinh thần trách nhiệm xã hội và năng lực thực thi dự án trong bối cảnh liên ngành.

Vai trò của nghệ sĩ có thể nhìn thấy rõ qua ba chiều kích hoạt động như kiến tạo ngữ cảnh (thiết kế không gian triển lãm, can thiệp công cộng), lan tỏa giá trị (giáo dục thẩm mỹ, truyền thông, tương tác cộng đồng) và bảo tồn - đổi mới (biến đổi chất liệu, phương thức thể hiện để làm sống lại di sản trong ngôn ngữ đương đại). Khi nghệ sĩ thực hiện vai trò này một cách chủ động, họ không chỉ đóng góp trực tiếp cho công nghiệp văn hóa mà còn làm gia tăng năng lực mềm của thành phố, bao gồm năng lực thu hút, kết nối và đổi mới.
Từ góc nhìn cá nhân của các nghệ sĩ và giám tuyển, có thể thấy hai dạng thực hành bổ trợ cho nhau: thực hành công cộng hướng đến việc làm sống động không gian chung (public art, dự án cộng đồng), và thực hành nghiên cứu dựa trên nghệ thuật (art-based research) kết hợp liên ngành với di sản nhằm hồi sinh, phục chế và truyền thông giá trị bản địa.
Nghệ sĩ - giám tuyển đảm nhiệm vai trò kết nối đa chiều; nghệ sĩ - nhà nghiên cứu đưa vào tác phẩm chiều sâu khảo cứu, bảo đảm tính xác thực và bền vững của giá trị văn hóa khi chuyển thể sang ngôn ngữ đương đại. Sự phối hợp giữa hai luồng thực hành này, giữa nghệ thuật công cộng và nghiên cứu dựa trên nghệ thuật là chìa khóa để nghệ thuật thị giác trở thành lực lượng chính trong quy trình phát triển công nghiệp văn hóa có trách nhiệm: tạo ra sản phẩm đẹp, có căn cứ tri thức, và thân thiện với cộng đồng.


Trong hơn một thập niên qua, nghệ sĩ - giám tuyển Nguyễn Thế Sơn là gương mặt tiêu biểu của xu hướng nghệ thuật vì cộng đồng ở Hà Nội, với quan điểm đưa nghệ thuật trở lại đời sống đô thị và dùng sáng tạo đương đại như công cụ kích hoạt di sản. Anh hướng tới hình thức bảo tồn động, trong đó di sản được tái cấu trúc qua đối thoại với ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, giúp quá khứ tiếp tục sống trong hiện tại.

Dự án nghệ thuật công cộng Phúc Tân (2019 - 2020) là dấu mốc nổi bật: khu vực bãi rác ven sông Hồng được biến thành “bảo tàng mở”, nơi người dân và du khách thưởng thức các tác phẩm làm từ vật liệu tái chế. Không chỉ làm đẹp cảnh quan, dự án còn khơi dậy ký ức đô thị, ý thức bảo vệ môi trường và chứng minh rằng nghệ thuật có thể cải tạo xã hội bằng thẩm mỹ. Từ thành công đó, Sơn mở rộng mô hình qua Hội quán Quảng Đông 22 Hàng Buồm trong Tuần lễ Khơi nguồn sáng tạo 2022, nơi nghệ thuật, di sản và cộng đồng cùng giao thoa. Di tích tưởng chừng bị lãng quên được hồi sinh như một không gian sáng tạo sống động, khẳng định quan điểm bảo tồn bằng cách sống cùng di sản.

Năm 2024, Sơn giám tuyển triển lãm Cảm thức Đông Dương tại Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội, tổ chức ở tòa nhà 19 Lê Thánh Tông, trụ sở của Đại học Đông Dương trước đây đồng thời là biểu tượng của kiến trúc và nền giáo dục Đông Dương. Triển lãm quy tụ các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu trong nỗ lực tái hiện tinh thần thẩm mỹ Đông Dương bằng ngôn ngữ đương đại, tạo nên cuộc đối thoại giữa lịch sử và sáng tạo vượt trên hoài niệm, như một cách kích hoạt năng lượng sáng tạo của quá khứ cho tương lai.

Tinh thần ấy tiếp nối trong dự án Chuyện đình trong phố (từ 2023), nhằm đánh thức hệ thống đình làng trong khu phố cổ. Nghệ thuật trở lại không gian tín ngưỡng - nghề nghiệp truyền thống, giúp đình làng trở thành điểm gặp gỡ giữa di sản và đời sống đương đại, đồng thời góp phần thúc đẩy du lịch văn hóa và kinh tế sáng tạo tại phường Hoàn Kiếm - trung tâm của Thành phố sáng tạo Hà Nội. Giai đoạn 2024 - 2025, Sơn tiếp tục mở rộng thực hành nghệ thuật gắn với giáo dục tại phường Cửa Nam, qua triển lãm Cửa Nam giao hòa ở Trường THCS Trưng Vương và dự án tu bổ hai bức phù điêu Nông nghiệp và Ngư nghiệp gần 100 năm tuổi ở phố Hàng Lọng.
Xuyên suốt hành trình, Nguyễn Thế Sơn coi nghệ thuật là phương thức giáo dục công chúng về di sản. Dưới bàn tay nghệ sĩ, di sản không còn tĩnh tại mà được kích hoạt, dịch chuyển để hòa nhập đời sống hiện đại. Nghệ thuật vì thế trở thành cầu nối giữa truyền thống và đổi mới, góp phần đưa di sản Hà Nội từ không gian bảo tồn sang không gian sáng tạo đúng với tinh thần phát triển công nghiệp văn hóa mà Thủ đô đang hướng tới.

Nếu Nguyễn Thế Sơn đại diện cho hướng nghệ thuật vì cộng đồng, nơi di sản được hồi sinh thông qua các dự án công cộng và sự tham gia của cư dân đô thị, thì Trần Hậu Yên Thế lại tiêu biểu cho dòng nghệ thuật nghiên cứu di sản, sử dụng nghệ thuật thị giác như công cụ tư duy để truy tìm ký ức và bản sắc thị giác Hà Nội. Một người đi từ thực hành xã hội, một người đi từ diễn giải học thuật, song họ gặp nhau ở điểm chung: làm cho di sản “sống” trong đương đại, biến nghệ thuật thành nguồn lực mềm của Thành phố sáng tạo Hà Nội.

Nghệ sĩ thị giác, nhà nghiên cứu Trần Hậu Yên Thế là gương mặt tiêu biểu của thế hệ nghệ sĩ Hà Nội có nền tảng lý luận vững vàng, thực hành gắn bó với di sản đô thị.
Trong hơn hai thập niên qua, anh vừa sáng tác vừa khảo cứu, khai mở ký ức Hà Nội qua ngôn ngữ thị giác. Với công trình Song xưa phố cũ (2013, tái bản 2019), anh kể câu chuyện đô thị qua những chi tiết nhỏ như hoa sắt, lan can, ô cửa, cánh cổng, là những thứ lưu giữ dấu ấn của thời Đông Dương và quá trình giao thoa Đông - Tây. Mỗi chi tiết kiến trúc được anh nhìn như một văn bản văn hóa, phản ánh cách người Việt bản địa hóa yếu tố ngoại lai để hình thành bản sắc thẩm mỹ riêng.
Thực hành nghệ thuật của Trần Hậu Yên Thế luôn gắn với lịch sử và ký ức Hà Nội. Anh là một trong những nghệ sĩ đầu tiên tham gia dự án Bích họa Phùng Hưng (2017 - 2018), bước khởi đầu quan trọng của nghệ thuật công cộng Thủ đô. Tác phẩm Ngôi nhà số 63 Phùng Hưng, với kỹ thuật tranh xé độc đáo, thể hiện sự biến đổi của kiến trúc qua thời gian và gửi gắm thông điệp “gìn giữ di sản trong lòng từng người”. Đến với Tuần lễ Khơi nguồn sáng tạo 2022, tại Hội quán Quảng Đông 22 Hàng Buồm, anh tiếp tục vai trò giám tuyển và sáng tác với dự án Hồn nhiên như cô tiên, cùng các nghệ sĩ trẻ và nghệ nhân truyền thống tạo ra chuỗi tác phẩm sơn mài, lụa, giấy dó, diều nghệ thuật… Từ các hình tượng tiên nữ, rồng, nghê, phượng, anh tái diễn giải di sản bằng chất liệu đương đại, biến không gian cổ thành bảo tàng sống của ký ức và sáng tạo.


Song song với sáng tác, Trần Hậu Yên Thế còn nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật thị giác Việt qua các công trình như Phác họa Nghê - gã linh vật bên rìa, Mỹ thuật Việt soi từ phía khác, Nghê Việt tinh tuyển, Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long. Việc anh phục hồi hình tượng Nghê, linh vật từng bị lãng quên, cho thấy rõ quan điểm nghệ thuật ngoài sáng tạo còn bảo tồn cả ký ức văn hóa.
Từ sáng tác công cộng đến nghiên cứu học thuật, Trần Hậu Yên Thế đại diện cho lớp nghệ sĩ - học giả Hà Nội đương đại, những người kết hợp tư duy khoa học với cảm thức nghệ sĩ để làm sống dậy ký ức đô thị. Qua đó, anh khẳng định nghệ thuật không chỉ làm đẹp thành phố mà còn giúp con người nhận diện lại chính mình trong mối quan hệ với di sản, là hành trình dung hòa giữa bảo tồn và sáng tạo để phát huy bản sắc Hà Nội - Thành phố sáng tạo.
Đáng chú ý, trong nhiều dự án nghệ thuật công cộng và hoạt động gắn với di sản nói trên, sinh viên ngành Nghệ thuật thị giác (Nghệ thuật tạo hình đương đại và Nhiếp ảnh nghệ thuật) thuộc Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tham gia tích cực, trở thành lực lượng kế cận trong hệ sinh thái sáng tạo của Thủ đô. Họ đảm nhiệm nhiều vai trò từ hỗ trợ sáng tác, thiết kế trưng bày, ghi chép, chụp ảnh, đến thuyết minh cho công chúng, góp phần lan tỏa giá trị của nghệ thuật và quảng bá hình ảnh Hà Nội. Thông qua sự tham gia ấy, sinh viên không những được rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp mà còn học cách làm nghệ thuật gắn với cộng đồng, với di sản và với không gian đô thị. Đây chính là mô hình giáo dục sáng tạo “nhà trường - nghệ sĩ - cộng đồng - đô thị”, mà ở đó, đào tạo, thực hành và sáng tạo cùng hội tụ, tạo nên nền tảng nhân lực mới cho công nghiệp văn hóa Hà Nội trong tương lai.
Nghệ thuật thị giác, với tư cách một trụ cột của công nghiệp văn hóa, làm giàu đời sống tinh thần, và hơn thế nữa, góp phần định hình bản sắc và sức cạnh tranh sáng tạo của Thủ đô. Qua những thực hành nghệ thuật của Nguyễn Thế Sơn, Trần Hậu Yên Thế và sự tham gia của thế hệ trẻ, có thể thấy rõ sức sống của nghệ thuật đương đại trong việc kết nối di sản với cộng đồng, giáo dục và sáng tạo. Đội ngũ văn nghệ sĩ Hà Nội đang và sẽ tiếp tục là lực lượng tiên phong, góp phần đưa Hà Nội trở thành Thành phố sáng tạo, giúp di sản văn hóa được tái sinh bằng nghệ thuật và sáng tạo trở thành động lực phát triển bền vững trong giai đoạn 2025-2030./.

Nội dung: ThS. Phạm Minh Quân/ Thiết kế: Minh Hương