Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.



Hà Nội, Thủ đô tự nhiên của lưu vực sông Hồng, của miền Bắc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, dù mang tên gọi khác nhau, vẫn luôn chiếm vị trí trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước và nhờ đó là nơi hội tụ nhân tài, đào luyện nhân tài đông đảo nhất của cả nước.
Lịch sử đã cho thấy, phần lớn danh nhân của nước ta đều trở thành người nổi tiếng có tầm cỡ quốc gia, đã sống và hoạt động ở Thăng Long - Hà Nội. Điều đặc sắc là tính chất đa tài, đa nghệ, tài hoa của các nhân tài Thăng Long - Hà Nội do sống ở nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của bốn phương, dẫn đến các hình thái văn hóa mà con người tiếp xúc hàng ngày cũng phong phú và hoàn thiện hơn nơi khác. Trong số đó, có đông đảo đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ được sinh ra ở Thăng Long - Hà Nội hoặc từ nơi khác đến ở hẳn hay vãng lai rồi tỏa về các tỉnh.

Thời phong kiến có Sư Vạn Hạnh, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tảng, Chu Văn An, Lê Thánh Tông, Lê Văn Hưu, Nguyễn Trãi, Ngô Sĩ Liên, Nguyễn An, Hồ Nguyên Trừng, Lê Hữu Trác, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Lê Quý Đôn, Dương Khuê, Tản Đà… Thời hiện đại, nhiều văn nghệ sĩ Hà Nội nổi danh cả nước, từ các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch như Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Sa, Nguyễn Trung Thu, Việt Phương, Tạ Vũ, Bế Kiến Quốc, Quang Dũng, Tào Mạt, …; đến các họa sĩ như Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Lê Phổ, Dương Bích Liên, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Đỗ Cung, Bùi Trang Chước,...; đến các nhạc sĩ, ca sĩ như Phạm Duy, Lê Yên, Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Giác, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Văn Quỳ, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Tỵ, Doãn Nho, Hàn Ngọc Bích, Hoàng Vân, Trọng Đài, Dương Thụ, Thương Huyền, Trung Đức, Trần Hiếu, Thanh Hoa…; và các diễn viên sân khấu như Hoa Tâm, Trịnh Thị Lan, Thanh Trầm, Diễm Lộc, Chu Văn Thức, Phan Hộ, Quốc Chiêm, Trịnh Thúy Mùi, Quốc Anh, Xuân Hinh, Thanh Bình, Khắc Tư, Thu Huyền, Hoàng Cúc, Hoàng Dũng, Minh Vượng, Thu Hà, Tiến Đạt, Trung Hiếu,…

Với lực lượng hùng hậu và giàu tài năng, đội ngũ văn nghệ sĩ đã và đang có đóng góp to lớn cho nền văn học, nghệ thuật Hà Nội nhiều tác phẩm có chất lượng cao, thậm chí không ít tác phẩm sống mãi với thời gian, qua đó khẳng định những giá trị tinh túy của mảnh đất nghìn năm văn hiến.
Chính nền tảng văn hóa và nguồn nhân lực sáng tạo ấy đã tạo tiền đề để Hà Nội xác định phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những hướng đi quan trọng trong giai đoạn mới.

Với thế mạnh có đội ngũ nhân tài - văn nghệ sĩ đông đảo như trên, Hà Nội đang phấn đấu trở thành một trong ba trung tâm phát triển công nghiệp văn hóa của cả nước.
Như chúng ta đã biết, công nghiệp văn hóa được hình thành từ sự kết hợp của sự sáng tạo, quá trình sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ thuộc về văn hóa. Các sản phẩm và dịch vụ của ngành công nghiệp văn hóa, về bản chất, mang tính phi vật thể, được bảo vệ bởi luật sở hữu trí tuệ và mang lại lợi ích kinh tế.
Quá trình tạo thành sản phẩm công nghiệp văn hóa không dừng lại ở sáng tạo tác phẩm, mà đặt trong một quy trình sản xuất, phân phối và lưu thông được vận hành khép kín, tạo nên nguồn doanh thu và lợi ích kinh tế cho các chủ thể trong quy trình đó.

Sở dĩ Hà Nội phấn đấu trở thành một trong ba trung tâm phát triển công nghiệp văn hóa của cả nước, bởi lẽ phát triển công nghiệp văn hóa sẽ đem lại 5 lợi ích chủ yếu cho Hà Nội:
1. Lợi ích kinh tế: Công nghiệp văn hóa tạo công ăn việc làm cho nhiều người, nâng cao thu nhập cho người lao động, đem đến lợi nhuận cho các doanh nghiệp, tăng doanh thu cho ngành văn hóa và ngân sách quốc gia, thúc đẩy sự phát triển, thịnh vượng của Thủ đô Hà Nội.
2. Góp phần bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống: Nghệ thuật truyền thống do nhân dân lao động sáng tạo nên và được lưu truyền qua nhiều thế hệ, chứa đựng tinh hoa văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nghệ thuật truyền thống đang bị mai một, thất truyền sâu sắc. Với việc đưa nghệ thuật truyền thống trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, nghệ thuật truyền thống có cơ hội được khai thác, bảo tồn, phục hồi và phát triển trong đời sống đương đại.
3. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế: Điều này thể hiện ở chỗ: để bắt kịp với các trào lưu, xu hướng trên thế giới và đáp ứng nhu cầu của công chúng, các nhà sản xuất tạo ra các sản phẩm không chỉ mang bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn phải có sự tiếp thu những thành tựu của văn hóa thế giới để các sản phẩm công nghiệp văn hóa, bên cạnh tính dân tộc, còn có tính hiện đại, mới mẻ, độc đáo.
4. Tạo điều kiện cho tài năng phát triển: Tài năng trong công nghiệp văn hóa được thể hiện thông qua các “ngôi sao”. Họ là những nghệ sĩ trẻ tuổi, có ngoại hình đẹp, có tài năng nghệ thuật, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp cao, có lối sống lành mạnh, trong sạch, thu hút đông đảo người hâm mộ.
5. Góp phần quảng bá văn hóa: Thông qua các tác phẩm văn học nghệ thuật độc đáo, công chúng quốc tế được chiêm ngưỡng, thưởng thức và hiểu được những tinh hoa văn hóa dân tộc nói chung và Hà Nội nói riêng. Sự phổ biến của các sản phẩm văn học nghệ thuật, tầm ảnh hưởng của các thần tượng đối với người hâm mộ, sẽ tạo nên sức hút mạnh mẽ để người hâm mộ quan tâm, tìm hiểu, yêu thích văn hóa của chính nơi đã sản sinh ra tác phẩm văn học nghệ thuật và thần tượng đó. Đó là con đường hữu hiệu quảng bá văn hóa, tạo cho Hà Nội gia tăng vai trò của mình trong quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, để đưa văn học nghệ thuật trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, Hà Nội cần hội tụ và kết nối đầy đủ 4 yếu tố: vốn đầu tư, tài năng sáng tạo, công nghệ và kỹ năng kinh doanh.
Điều này có nghĩa là, phải có nguồn kinh phí phù hợp để chi trả cho việc sáng tạo, sản xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm văn học nghệ thuật; đội ngũ sáng tạo phải có tài năng, kinh nghiệm, danh tiếng để thu hút công chúng, phải có sự liên kết một cách đồng bộ, chuyên nghiệp với nhau và với nhà sản xuất; sử dụng các công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hình thức phân phối, lưu thông và hấp dẫn công chúng; phải có kỹ năng kinh doanh để nắm bắt được nhu cầu của thị trường, am hiểu quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu cho tác phẩm, đạo diễn, diễn viên, tổ chức sự kiện, phát triển khán giả. Đó là sự kết hợp cần thiết để một tác phẩm văn học nghệ thuật được sản xuất và đem ra thị trường trở thành một sản phẩm của công nghiệp văn hóa.
Trong 4 yếu tố trên, tài năng sáng tạo đóng vai trò then chốt. Bởi lẽ, nếu không có tài năng thì sẽ không thể có những giọng ca hay, vai diễn giỏi; không thể có những tác phẩm đỉnh cao; không thể lôi cuốn, thu hút được công chúng và do vậy, không thể có được nguồn nhân lực kế cận đủ khả năng đảm đương gánh vác sứ mệnh phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô Hà Nội.

Bên cạnh những lợi thế sẵn có, thực tiễn cũng cho thấy nhiều hạn chế đang ảnh hưởng đến quá trình phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô.
Hiện nay, công nghiệp văn hóa Hà Nội đang đối mặt với những thách thức không nhỏ, làm cho sự phát triển diễn ra chậm chạp và chưa hiệu quả. Bên cạnh vấn đề về cơ chế chính sách còn thiếu và chưa phù hợp để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp văn hóa; cơ sở vật chất tại các nhà hát, rạp hát còn nghèo nàn, hạ tầng kỹ thuật lạc hậu, cũ kỹ, vừa thiếu, vừa được đầu tư chưa đồng bộ; thiếu kinh phí đầu tư cho các chương trình, tiết mục, vở diễn có quy mô lớn cũng như cho khâu quảng bá, marketing, phân phối lưu thông các tác phẩm văn học nghệ thuật,… thì còn có vấn đề liên quan đến đội ngũ văn nghệ sĩ - nguồn lực chủ yếu để phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô Hà Nội.

Dù có đội ngũ văn nghệ sĩ hùng hậu, những nhân tài và nguồn nhân lực chất lượng cao đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển ngành công nghiệp văn hóa vốn đòi hỏi khe khắt về tính sáng tạo, óc kinh doanh thì lại vừa thiếu, vừa yếu. Họ có thể tài năng về chuyên môn, nhưng chưa am hiểu sâu cách thức sáng tạo các sản phẩm văn học nghệ thuật đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Chưa kể, đội ngũ này dù đông đảo, nhưng đa số bị già hóa, nhất là các nghệ sĩ ở các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Bên cạnh đó, đa số văn nghệ sĩ còn thiếu được trau dồi, bồi dưỡng về kĩ năng quản trị nghệ thuật, kĩ năng kinh doanh, kĩ năng chuyên môn, kĩ năng ứng dụng công nghệ hiện đại theo quy luật của thị trường.
Ngoài ra, nguồn nhân lực ở một số bộ phận trong thành phần sáng tạo (nhất là về biên kịch, biên đạo, thiết kế âm thanh, ánh sáng…), sản xuất, quảng bá, marketing và phân phối, lưu thông sản phẩm văn học nghệ thuật thiếu hụt trầm trọng, làm cho chất lượng sản phẩm văn học nghệ thuật rơi vào tình trạng thiếu sức hấp dẫn, sức cạnh tranh không cao, khó bán được trên thị trường, ít được công chúng biết đến hay sẵn lòng bỏ kinh phí, thời gian để thưởng thức... Chính điều này làm cho các sản phẩm văn học nghệ thuật Hà Nội, với xuất phát điểm đi sau rất xa so với thế giới, đã thua ngay trên “sân nhà”, chưa nói đến xuất khẩu để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Nhằm thực hiện một trong các nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội khóa XVIII nhiệm kỳ 2025 - 2030 là phát triển công nghiệp văn hóa “trở thành ngành kinh tế mũi nhọn”, “đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực”, văn nghệ sĩ Thủ đô cần phát huy vai trò trong kỷ nguyên mới của dân tộc và thời đại. Điều này thể hiện ở hai nội dung quan trọng:

1. Đội ngũ văn nghệ sĩ Thủ đô cần chủ đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về công nghiệp văn hóa. Văn học nghệ thuật Hà Nội trong thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình trong việc phản ánh hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến, hiện thực cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong cơ chế bao cấp và bước vào thời kỳ Đổi mới. Tuy nhiên, hiện nay, đất nước đã chuyển sang hiện thực phát triển mới đòi hỏi đội ngũ văn nghệ sĩ phải đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về công nghiệp văn hóa, từ đó, chủ động tự đổi mới mình cho phù hợp. Vì nếu không đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức, thì sẽ không hiểu rõ và triển khai thực hiện đúng, hiệu quả phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô. Ở đây, sự tự đổi mới này phải cả về nội dung lẫn hình thức sáng tạo các tác phẩm văn học nghệ thuật; ở phương thức hoạt động kinh doanh để trở thành sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa đem lại nguồn lợi nhuận cao.

Trong đó, bên cạnh khâu sáng tạo và sản xuất, việc đổi mới cách tiếp cận công chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Để cạnh tranh, tự chủ được trên thị trường, các đơn vị, các văn nghệ sĩ không thể không tự trang bị đầy đủ cho mình các kĩ năng về quản trị nghệ thuật, các kỹ năng kinh doanh. Các kĩ năng về quản trị nghệ thuật sẽ giúp cho các nhà quản lý nghệ thuật điều hành công tác tổ chức, sản xuất đạt hiệu quả.
Các kỹ năng kinh doanh sẽ giúp các đơn vị nghệ thuật nắm vững được các quy luật kinh tế, sản xuất các sản phẩm nghệ thuật đáp ứng nhu cầu của thị trường, đem lại doanh thu cao, đồng thời làm tốt công tác marketing và xây dựng cho mình thương hiệu - một tài sản vô hình trong cơ chế thị trường và cũng là tài sản quốc gia, tài sản của Thủ đô, tài sản của cá nhân văn nghệ sĩ trong hội nhập quốc tế. Vì thương hiệu càng mạnh, càng gây được ấn tượng trong tâm thức của người tiêu dùng, thì tác phẩm văn học nghệ thuật càng được nhiều công chúng bỏ tiền ra mua để thưởng thức.

2. Đội ngũ văn nghệ sĩ Thủ đô cần phải không ngừng phát huy tài năng, nâng cao về chất lượng chuyên môn. Một đơn vị nghệ thuật hay cá nhân văn nghệ sĩ mà thiếu tài năng, thiếu những sáng tạo hay, độc đáo, có chiều sâu về nội dung tư tưởng, thì đơn vị đó, cá nhân đó sẽ khó có thể phát triển và tạo ra những tác phẩm thực sự có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của công chúng cũng như của thời đại. Bởi vậy, việc tuyển lựa, đào tạo, rèn luyện, học tập, phát huy tài năng, nâng cao trình độ của văn nghệ sĩ là vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của chính đơn vị nghệ thuật đó và cá nhân văn nghệ sĩ đó.
Tài năng của đội ngũ văn nghệ sĩ Thủ đô phải đi cùng trí tuệ cao, hoài bão lớn, bản lĩnh vững vàng, am hiểu giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc và Hà Nội; phải hiểu biết những tinh hoa văn hóa của dân tộc khác; phải am tường cả chỗ mạnh, chỗ yếu của dân tộc, của Hà Nội và của cả dân tộc khác, địa phương khác một cách tỉnh táo, khách quan, thực tế…để phát huy những giá trị ưu trội, bổ sung những giá trị thiếu hụt, bản lĩnh gạt bỏ những cái lạc hậu, lỗi thời để gia tăng sức sống của các loại hình văn học nghệ thuật vừa dân tộc, vừa hiện đại. Điều này càng quan trọng nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay đang lôi cuốn nhiều quốc gia, dân tộc tham gia vào vòng xoáy của toàn cầu hóa, đẩy bản sắc văn hóa đứng trước nguy cơ xói mòn, biến mất, cần phải được giữ gìn, bảo vệ.
Đội ngũ văn nghệ sĩ là một trong những nguồn lực quan trọng của Hà Nội trong phát triển công nghiệp văn hóa. Để phát huy hiệu quả nguồn lực này, cùng với sự chủ động đổi mới, nâng cao năng lực sáng tạo của mỗi văn nghệ sĩ, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù và xây dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo. Đó sẽ là nền tảng để văn học nghệ thuật phát huy giá trị, để đội ngũ văn nghệ sĩ có động lực, bệ đỡ vững chắc giơ cao đôi cánh sáng tạo, hoàn thành sứ mệnh đưa văn học nghệ thuật Hà Nội trở thành nguồn lực mạnh thúc đẩy sự đi lên của Thủ đô./.

Nội dung: TS. Trần Thị Minh Thu/ Thiết kế: Minh Hương