Sự kiện - Bình luận

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 3, khóa XIV

Đình Thế 14:34 29/07/2026

Sáng 29/7, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

202607290855085336_1785289644036_6935599001901914730_g3194982797251543164_afda93afbc4d63353864c5006e4f23a0.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội (Hà Nội). Ảnh: quochoi.vn.

Tham dự Hội nghị có các đồng chí: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; các đồng chí nguyên Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết (điểm cầu TPHCM), Trương Tấn Sang (điểm cầu Tây Ninh), Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; các đồng chí nguyên Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng (điểm cầu TPHCM), Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các nguyên Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị…

202607290855085804_1785289650258_6935599001901914730_g3194982797251543164_d8989e2093c4717d5b6e09cf44a75704.jpg
Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội (Hà Nội). Ảnh: quochoi.vn.

Dự Hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Trọng Đông; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Phùng Thị Hồng Hà; Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Phong; các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy; Thường trực HĐND, UBND thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố...

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị.

dao.jpg
Các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội dự tại điểm cầu Thành uỷ.

Tại hội nghị, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước quán triệt 9 chuyên đề: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia; Nghị quyết về quan điểm, định hướng, sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan; Kết luận về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; Quy định về những điều đảng viên không được làm.

Đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử

Tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã quán triệt 2 chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh".

1785290963246_5189902145698231970_g5424620439291575276_7ab8740c32a0e5fe332491f63c302ee3.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: quochoi.vn.

Về Chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó khẳng định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; thể hiện các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển, đó là thực hiện nhất quán "bốn kiên định"; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Chuyên đề "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh: Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh đất nước và thế giới đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược trên biển ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cần xây dựng Nghị quyết mới của Trung ương nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn chiến lược, toàn diện với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Để cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, với 6 nhóm mục tiêu lớn về phát triển kinh tế biển; mở rộng không gian biển và hạ tầng biển; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả quản trị biển và bảo vệ môi trường; phát triển văn hóa, xã hội vùng biển; củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, ưu tiên nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy phát triển biển và xây dựng mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển, huy động hiệu quả mọi nguồn lực xã hội và phát triển các doanh nghiệp biển có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh và thông minh. Bên cạnh những ngành truyền thống, như: Hàng hải, khai thác và nuôi trồng thủy sản, trọng tâm sẽ được chuyển sang các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics biển, công nghiệp công nghệ cao ven biển, kinh tế đại dương và dịch vụ biển chất lượng cao.

Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước

Quán triệt Nghị quyết về Chiến lược an ninh quốc gia tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an - Đại tướng Lương Tam Quang cho biết, Nghị quyết được ban hành nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp và xuất hiện nhiều thách thức an ninh mới. Nghị quyết xác định mục tiêu bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời coi an ninh là điều kiện tiên quyết và là động lực cho phát triển nhanh, bền vững.

202607290928491989_1785291942380_2162376588907177512_g3194982797251543164_bb28124052b67e64ecc652da11331c88.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: quochoi.vn.

Điểm mới của nghị quyết là mở rộng nội hàm an ninh sang các lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, dữ liệu, không gian mạng, không gian biển, vũ trụ và các không gian mới; lấy an ninh con người làm trung tâm, phát triển gắn với bảo đảm an ninh. Nghị quyết cũng đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực dự báo chiến lược, chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; xây dựng nền an ninh nhân dân hiện đại, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết, đây là nghị quyết chiến lược đầu tiên của Đảng về xây dựng xã hội trong kỷ nguyên mới, xác định xây dựng xã hội là một trụ cột quan trọng trong mô hình phát triển đất nước. Nghị quyết hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa và phát triển; bảo đảm toàn diện an ninh con người; nâng cao chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc và niềm tin của Nhân dân.

Theo Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang, nghị quyết nhấn mạnh phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, con người, môi trường và tiến bộ, công bằng xã hội; lấy người dân làm trung tâm, pháp luật làm trụ cột, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực của nền quản trị xã hội hiện đại.

Tạo bước đột phá thể chế, khơi thông nguồn lực đất đai cho kỷ nguyên phát triển mới

Tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

202607290928492302_1785292080930_2162376588907177512_g3194982797251543164_2b25528de5c87f83b6c76361b1f9e10f.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: quochoi.vn.

Nghị quyết số 21-NQ/TW tiếp tục làm rõ những vấn đề có tính nền tảng về vai trò của đất đai, chế độ sở hữu, quyền sử dụng đất và trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý đất đai.

Theo đó, nghị quyết khẳng định đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, không gian sinh tồn và phát triển, là yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia; đồng thời là tư liệu sản xuất đặc biệt và nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nghị quyết khẳng định tuyệt đối không tư nhân hóa đất đai và không cho phép người nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức, trừ trường hợp người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất; giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất, chính sách tài chính đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không do người sử dụng đất tạo ra. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm công bằng, hiệu quả, tránh lãng phí.

Nghị quyết cũng khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu, đồng thời là yếu tố đầu vào quan trọng của nền kinh tế. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp đã được xác lập theo chính sách, pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân.

202607290909120274_1785291144162_6935599001901914730_g3194982797251543164_0d831cc88f589ac3c2afce179ede6935.jpg
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội (Hà Nội). Ảnh: quochoi.vn

Để hiện thực hóa mục tiêu này, nghị quyết đề ra các mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn. Theo đó, đến hết năm 2026 phải hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin; đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với các diện tích chưa có trong cơ sở dữ liệu.

Đến năm 2030, hệ thống pháp luật về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm đất đai được quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, phân bổ công bằng, hợp lý, gia tăng giá trị và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Nghị quyết số 21-NQ/TW xác định 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được điều chỉnh, bổ sung với nhiều nội dung mới cần tập trung quán triệt và triển khai.

Tiếp tục "tinh chỉnh" để hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong sau một năm triển khai chính quyền địa phương 2 cấp

Tại hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc đã quán triệt 2 chuyên đề: "Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp" và chuyên đề "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng".

202607291024079670_1785295604949_2162376588907177512_g3194982797251543164_aa5dc75aa79053478a130124cf9c16b8.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: quochoi.vn.

Về Chuyên đề "Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, sau 1 năm triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: Chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới; là quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng sâu sắc trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tổ chức quyền lực nhà nước và quản trị quốc gia hiện đại.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, quá trình vận hành mô hình mới vẫn còn một số hạn chế, bất cập về thể chế, phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, về sắp xếp, bố trí, chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyển đổi số và năng lực tổ chức thực hiện, nhất là ở cấp xã. Đây là những vấn đề tất yếu phát sinh trong quá trình chuyển đổi mô hình, cần tiếp tục được rà soát, khắc phục, hoàn thiện; hoàn toàn không làm thay đổi tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy.

Trong thời gian tới cần tiếp tục "tinh chỉnh" để hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong; đồng thời chuyển mạnh trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực quản trị quốc gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ nhân dân; bảo đảm hệ thống chính trị đủ năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và của cấp ủy các cấp.

Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Cụ thể là: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và phát huy trách nhiệm người đứng đầu. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân. Xử lý hiệu quả tài sản công, hồ sơ lưu trữ và bảo đảm nguồn lực cho cơ sở. Lấy chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo làm phương thức đột phá trong vận hành mô hình mới.

img_9803.jpg
Quang cảnh hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Đình Thế.

Đề cập đến Chuyên đề "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW lần này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bảo đảm thống nhất với mô hình tổ chức của hệ thống chính trị sau sắp xếp. Thực tiễn lịch sử 96 năm xây dựng và phát triển đã khẳng định: Mô hình tổ chức của Đảng luôn được điều chỉnh, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong từng giai đoạn.

Từ mô hình 6 cấp trong thời kỳ đầu thành lập Đảng, từng bước chuyển dần sang mô hình 5 cấp, 4 cấp trong nhiều thập niên và hiện nay - sau Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV là mô hình 3 cấp, đã phản ánh quá trình đổi mới tổ chức luôn gắn liền với sự tiếp nối quy luật phát triển khách quan của lịch sử.

"Việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW là hết sức cần thiết để tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa chủ trương của Trung ương về mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới; tạo cơ sở chính trị, pháp lý trong việc định danh tên gọi, điều chỉnh, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác và trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy, tổ chức đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh.

"Việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW là hết sức cần thiết để tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa chủ trương của Trung ương về mô hình tổ chức Đảng trong giai đoạn mới; tạo cơ sở chính trị, pháp lý trong việc định danh tên gọi, điều chỉnh, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác và trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy, tổ chức đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh.

Trên cơ sở đó, Quy định về thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương là những nội dung mang tính nguyên tắc, khung định hướng chung; tập trung sửa đổi, bổ sung các nhóm nội dung, trong đó có điều chỉnh kết cấu, bố cục Quy định theo hướng khoa học, thống nhất; đồng thời sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến việc định danh tên gọi các loại hình tổ chức đảng gắn với việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức đảng theo mô hình mới.

Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Tiếp tục chương trình hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh đã quán triệt Chuyên đề "Quy định về những điều đảng viên không được làm".

sy-thanh.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Trần Sỹ Thanh trình bày chuyên đề tại hội nghị. Ảnh: quochoi.vn.

Đồng chí Trần Sỹ Thanh cho biết Quy định mới thay thế Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 là một trong những văn bản có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Quy định mới giữ nguyên 19 điều, thể hiện tính kế thừa, ổn định của khung quy định gần 30 năm qua. Tuy nhiên, nội dung các điều đã được rà soát, sắp xếp lại theo hướng khoa học, logic, tập hợp thành ba nhóm lớn: Nhóm nội dung về công tác tư tưởng chính trị (từ Điều 1 đến Điều 8). Nhóm nội dung về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao gắn với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (từ Điều 9 đến Điều 17). Nhóm nội dung về giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống (Điều 18, 19).

Cách sắp xếp này giúp đảng viên khi học tập, nghiên cứu dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng hơn trong thực tiễn; đồng thời giúp việc tra cứu, đối chiếu, áp dụng được thuận lợi, chính xác hơn.

Việc ban hành Quy định tiếp tục thể hiện thông điệp mạnh mẽ về quyết tâm chính trị của toàn Đảng trong việc chủ động phòng ngừa, cảnh báo từ sớm; ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đi cùng với bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm chính, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Giá trị của nghị quyết phải được thể hiện bằng chất lượng sống, cơ hội phát triển, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm của các đại biểu trong nghiên cứu, học tập, quán triệt những nội dung cốt lõi, điểm mới và yêu cầu triển khai các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.

202607291059555824_1785297719444_2162376588907177512_g3194982797251543164_1380d20103bdd1d0dcee9233c3e1393d.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.Ảnh: quochoi.vn

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gắn nhiệm vụ năm 2026 với mục tiêu của cả nhiệm kỳ, hướng tới các mốc phát triển năm 2030 và năm 2045.

Các quyết sách của Trung ương cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, khả năng quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước; làm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành hiệu quả hơn, các nguồn lực được khơi thông, đời sống Nhân dân được nâng cao và đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Nhấn mạnh yêu cầu thống nhất trong nhận thức và hành động, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu quá trình triển khai phải bảo đảm “rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm”. “Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống. Phải chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.

Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

img_9779.jpg
Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Đình Thế.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, những điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa các quyết sách, bước chuyển chiến lược của Trung ương; hiểu đúng để hành động thống nhất.

Điều cần nhận thức sâu sắc là các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, gắn kết cùng hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Công tác xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phải giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành; không gian phát triển, nguồn lực quốc gia phải được quản trị thống nhất, sử dụng hiệu quả; mô hình phát triển phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người, phải bám sát thực tiễn Việt Nam; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường phải chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Các nhiệm vụ đó là một thực thể hữu cơ; khâu nào chậm, yếu đều ảnh hưởng đến kết quả chung.

Trong xây dựng Đảng, phải kết hợp giữa "xây" và "chống", giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Thi hành Điều lệ Đảng phải tuyệt đối chấp hành Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới cần thí điểm phải rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và được tổng kết. Quy định về những điều đảng viên không được làm giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa; đồng thời bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Trong quản trị không gian và nguồn lực phát triển, phải vượt qua sự chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực, nhiệm kỳ; đặt mỗi địa phương, mỗi nguồn lực trong tổng thể liên kết vùng và lợi ích quốc gia. Hoàn thiện pháp luật đất đai phải giữ vững nguyên tắc sở hữu toàn dân, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là không gian sinh tồn và phát triển. Quản lý và sử dụng đất phải đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Nhà nước bảo đảm cải thiện chỗ ở, sinh kế của người có đất thu hồi.

Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng Quốc gia biển mạnh. Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến.

Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Trong bảo vệ đất nước và phát triển bền vững, phải quán triệt quan hệ thống nhất giữa an ninh và phát triển. Phát triển phải tạo thêm tiềm lực, sức chống chịu; bảo đảm an ninh phải giữ vững môi trường ổn định cho phát triển. Phải chuyển từ trạng thái tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng; bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm an ninh con người, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước, hạ tầng trọng yếu. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

img_9802.jpg
Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Đình Thế.

Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa đồng bộ các quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên và liên thông giữa các nhiệm vụ

Nghị quyết phải đi cùng chương trình hành động. Chương trình hành động phải mang hơi thở, nhịp sống, đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương, cơ sở để có thể thực thi hiệu quả. Mỗi chương trình phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không hành chính hóa việc thực hiện; không lấy số lượng kế hoạch, hội nghị thay cho kết quả.

Ngay sau hội nghị hôm nay, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết của Đảng và Văn kiện Hội nghị Trung ương 3. Nhiệm vụ cùng mục tiêu, đối tượng, địa bàn phải được tích hợp; nội dung chồng chéo phải được xử lý; nguồn lực phải điều phối theo mục tiêu chung. Không để nhiều đầu mối cùng làm nhưng không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng.

Cần phân loại rõ công việc. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định cơ quan, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực, cơ chế kiểm soát. Không lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn; cũng không nóng vội, duy ý chí.

Thể chế hóa phải kịp thời, đồng bộ, chuyển chủ trương của Đảng thành quy định rõ ràng, khả thi. Cấp nào có thẩm quyền phải chủ động giải quyết; vấn đề vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, đồng thời đề xuất phương án xử lý. Không chỉ chuyển văn bản lên cấp trên rồi chờ đợi; không để khoảng trống pháp lý, hướng dẫn thiếu thống nhất làm chậm công việc, phát sinh thêm thủ tục, chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Về hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp, Trung ương không đặt vấn đề sắp xếp, điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã, vì cơ bản cả hệ thống đang hoạt động ổn định, hiệu quả. Tỉnh, thành phố nào thấy thật sự cần thiết phải điều chỉnh, căn cứ chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, quy hoạch, thực tiễn quản trị và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân thì đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định. Phương án đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng thuận, phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng "thuận cán bộ, khổ Nhân dân". Ban thường vụ, Ban chấp hành tỉnh, thành ủy phải chịu trách nhiệm về đề xuất đó.

Tiến độ triển khai nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải cơ bản thể chế hóa các quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Hướng tới năm 2030, năm 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và sức chống chịu của đất nước.

img_9814.jpg
Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Đình Thế.

Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thi hành để hệ thống chính trị vận hành thông suốt, tương tác hiệu quả.

Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu quả nhưng chất lượng chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở. Mục tiêu hiện nay là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ Nhân dân. Phải tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, năng lực thực thi. Phải chuyển mạnh hơn nữa, nhanh hơn nữa từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm.

Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Quốc hội và HĐND các cấp thể chế hóa, quyết định, giám sát; Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội. Phải bảo đảm sự liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện và giám sát; không làm thay chức năng của nhau.

Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn và kiểm tra. Cấp tỉnh cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã hoạt động thông suốt. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp giải quyết mọi nhu cầu, công việc của người dân, doanh nghiệp; phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Phải tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc.

Trung ương phân quyền cho địa phương. Cấp tỉnh phân cấp những nhiệm vụ cấp xã có thể làm. Cấp xã phải nỗ lực đảm đương những nhiệm vụ được giao, không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình. Khi cấp xã thiếu điều kiện thực thi, cấp tỉnh phải chủ động tháo gỡ, nếu nội dung công việc vượt qua thẩm quyền thì báo cáo Trung ương xem xét. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp rõ ràng, có nguồn dữ liệu dùng chung và kết quả phải đo, đếm được.

Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, được chia sẻ theo thẩm quyền; chấm dứt việc người dân phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có trong hệ thống. Hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm; không tạo thêm thủ tục, phần mềm, báo cáo hình thức.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương và vai trò quyết định của người đứng đầu.

Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ. Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công khai, công tâm, khách quan; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong Đảng, tín nhiệm trong Nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết làm căn cứ.

Các cấp ủy, địa phương phải bố trí cán bộ đúng năng lực, chuyên môn, nhất là ở cấp xã và vị trí trực tiếp thực thi quyết sách; đào tạo theo vị trí việc làm. Kịp thời thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém, né tránh, đùn đẩy; trọng dụng, bảo vệ cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới với hành vi lợi dụng thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa, bao che sai phạm.

Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp, Nhân dân; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng. Không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo; không nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi chậm trễ. Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tự soi, tự sửa, nêu gương bằng kết quả cụ thể. Kỷ luật nghiêm minh không phải để cán bộ sợ trách nhiệm, mà để mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền, yên tâm đổi mới, cống hiến.

Thứ năm, thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng.

Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, trong suốt quá trình thực hiện, tập trung vào nơi có nguy cơ chậm tiến độ, khâu dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải theo dõi, cảnh báo sớm, tháo gỡ kịp thời; không chờ đến khi nhiệm vụ chậm, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới kiểm tra, xử lý.

Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, bộ máy vận hành tốt hơn thế nào, điểm nghẽn nào được tháo gỡ, nguồn lực nào được khơi thông, người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì?. Một nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Kết quả phải là căn cứ đánh giá cán bộ; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; xử lý nghiêm biểu hiện né tránh, đùn đẩy, hình thức, trục lợi.

Phải thường xuyên lắng nghe Nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét đồng thời trách nhiệm thực hiện và bất cập của cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, cũng không lấy chính sách để bao biện cho yếu kém. Qua kiểm tra phải tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh cách làm, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế.

Công tác thông tin, tuyên truyền phải được xác định trong từng chương trình hành động; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình, trách nhiệm để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng, đồng hành. Phải chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc; đồng thời lắng nghe phản biện có cơ sở. Đồng thuận xã hội trước hết được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai và kết quả người dân cảm nhận được.

Trong mọi chương trình hành động, phải đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực. Hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh. Không đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt; không để người yếu thế gánh chi phí bất hợp lý. Giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.

"Hội nghị hôm nay mở ra giai đoạn tổ chức thực hiện với yêu cầu cao hơn về trách nhiệm, kỷ luật và hiệu quả. Những vấn đề Trung ương đã quyết định phải được chuyển ngay thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm, kết quả cụ thể." Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương và người đứng đầu bắt tay ngay vào công việc; xác định đúng trọng tâm, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện. Kết quả công việc phải được kiểm chứng bằng chuyển biến thực tế, hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của Nhân dân.

202607291105050155_1785297986890_2162376588907177512_g3194982797251543164_451a691686b87e60d44a51f558ebe2d9.jpg
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết phát biểu tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: quochoi.vn

Phát biểu tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cho biết, bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã làm sâu sắc thêm những nội dung cốt lõi, những vấn đề mới, điểm đột phá của các nghị quyết, kết luận, quy định mà Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã thông qua. Đồng thời chỉ rõ tinh thần tổ chức thực hiện khẩn trương, quyết liệt, thực chất, hiệu quả.

Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết nghiêm túc tiếp thu đầy đủ ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước để cụ thể hóa ngay trong hướng dẫn triển khai và tổ chức thực hiện.

Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cho rằng, quán triệt mới chỉ là bước khởi đầu, giá trị thực hiện hội nghị hôm nay được đo bằng việc triển khai ở các cấp. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã có hướng dẫn về tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết ở các cấp. Đồng chí đề nghị các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và cấp ủy các cấp tập trung một số nội dung sau:

Thứ nhất, ngay sau hội nghị này, tiếp tục tổ chức quán triệt đến toàn thể cán bộ, đảng viên, tuyên truyền sâu rộng trong Nhân dân. Bí thư cấp ủy trực tiếp chủ trì, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

Thứ hai, cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 3 thành chương trình, kế hoạch hành động của cấp mình, rõ mục tiêu, rõ sản phẩm, rõ người, rõ tiến độ và rõ trách nhiệm, tổ chức hoàn thành trong tháng 8-2026.

Thứ ba, sau khi Quốc hội, Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương thể chế hóa thành luật, nghị định, thông tư, đề nghị cấp ủy các cấp phải chủ động cập nhật, quán triệt và triển khai ngay để tổ chức thực hiện, chấm dứt tình trạng nghị quyết đã có, thể chế đã được cụ thể đầy đủ mà cấp dưới không nắm được, không bàn và không tổ chức thực hiện.

Đình Thế