Bài 1: Điểm tự nội sinh làng nghề Thủ đô hòa nhịp "kinh tế văn hóa"
Thăng Long – Hà Nội, vùng đất “lắng hồn núi sông ngàn năm”, không chỉ là trung tâm hành chính quốc gia mà còn là một “bảo tàng di sản sống” của đất nước. Trong bức tranh văn hóa đa sắc ấy, hệ thống làng nghề truyền thống, làng có nghề đóng vai trò như những tế bào gốc, cấu thành nên “căn cước văn hóa” cho chốn Kinh kỳ. Và hôm nay, làng nghề Hà Nội đã và đang có nhiều cơ hội, điểm tựa nội sinh để hòa nhịp “kinh tế văn hóa”.



Nhìn lại chiều dài lịch sử của dân tộc, hiếm có một không gian đô thị nào trên thế giới lại sở hữu một mật độ di sản nghề thủ công đậm đặc, phong phú và có sức sống bền bỉ như Thăng Long – Hà Nội. Từ thuở vua Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô, định đô tại vùng đất Đại La “rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa”, Thăng Long đã mặc nhiên trở thành trung tâm thu hút những đôi bàn tay khéo léo nhất, những bộ óc sáng tạo nhất từ khắp các vùng đổ về.
Những dòng họ nghệ nhân mang theo bí kíp của dòng tộc, lập phường, dựng phố, tạo nên ba mươi sáu phố phường sầm uất chốn nội đô và một vành đai sinh thái văn hóa thủ công bao bọc lấy kinh thành.
Tính đến thời điểm hiện tại, Thủ đô Hà Nội dẫn đầu cả nước với hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề, chiếm gần một phần ba tổng số lượng làng nghề của toàn quốc. Đây là minh chứng sống động, rực rỡ nhất cho một dòng chảy văn hóa không bao giờ ngừng nghỉ của Thủ đô. Sự đa dạng của hệ thống làng nghề Hà Nội bao phủ mọi khía cạnh của đời sống vật chất lẫn tinh thần, từ những vật dụng sinh hoạt thường nhật, những nông cụ thô sơ cho đến những chế tác nghệ thuật chạm khắc đỉnh cao, phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng thiêng liêng nhất.

Đồng chí Vũ Đại Thắng – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố khẳng định: Hà Nội có hệ thống làng nghề rất phong phú, đặc biệt tại khu vực Hà Tây cũ với nhiều làng nghề nổi tiếng trong nước và quốc tế. Những làng nghề này không chỉ có giá trị kinh tế mà còn mang đậm yếu tố văn hóa, truyền thống và tính cộng đồng cao trong sản xuất. Do đó, việc bảo tồn và phát triển làng nghề là chủ trương xuyên suốt của Thành phố.

Các làng nghề của Hà Nội hoạt động trong 6 nhóm ngành nghề như chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, dệt may, cơ khí nhỏ; sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ ngành nghề nông thôn; cùng các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nông thôn. Mỗi làng nghề của Thủ đô đều mang bản sắc riêng, tạo ra nhiều sản phẩm độc đáo, tinh xảo và đậm nét văn hóa truyền thống. Không chỉ giữ vai trò gìn giữ các giá trị nghề cổ truyền, hệ thống làng nghề còn là nguồn lực kinh tế quan trọng của Thủ đô.
Chúng ta có một làng nghề gốm Bát Tràng trầm mặc với những lò bầu rực lửa qua nhiều thế kỷ, nơi đất và nước hòa quyện qua bàn tay nhào nặn tài hoa để hóa thành những tuyệt tác gốm sứ men rạn, men ngọc, men lam nức tiếng. Chúng ta có lụa Vạn Phúc mềm mại, óng ả, ghi dấu ấn qua những dải lụa tơ tằm mang đậm hồn cốt dân tộc, từng được chọn làm cống phẩm và xuất khẩu đi nhiều quốc gia trên thế giới.

Dịch về phía Nam, ta bắt gặp những người thợ khảm trai Chuyên Mỹ miệt mài, tỉ mẩn gọt giũa từng mảnh xà cừ lấp lánh để khảm lên những bức hoành phi, câu đối, những bộ sập gụ tủ chè mang giá trị vĩnh cửu. Hay những nghệ nhân mây tre đan Phú Vinh với khả năng uốn nắn từng nhành tre, sợi mây thành những tác phẩm trang trí nội thất hiện đại, những bức chân dung sống động như thật; những người thợ mộc Chàng Sơn, Thiết Úng tinh tế, tài hoa trong từng nhát đục, nhát chạm; thêu ren Quất Động tinh xảo; đúc đồng Ngũ Xã uy nghi...
Giá trị cốt lõi, độc bản của làng nghề Hà Nội vượt xa những món hàng hóa vật chất thông thường được sản xuất trên các dây chuyền công nghiệp đại trà. Làng nghề là sự giao thoa hoàn hảo, tuyệt mỹ giữa di sản hữu hình và di sản vô hình.

Ẩn sâu trong mỗi chiếc bình gốm, mỗi bức tranh sơn mài hay mỗi tấm lụa là những “mật mã” văn hóa, là triết lý nhân sinh quan, văn hóa truyền thống của người Việt, là phong tục tập quán và tín ngưỡng thờ tổ nghề được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ở đó, không gian không bao giờ bị tách rời khỏi sản phẩm.
Đi cùng với nghề thủ công là cả một hệ sinh thái kiến trúc đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ với hình ảnh cổng làng rêu phong, bến nước thanh bình, sân đình rộng lớn, những nếp nhà cổ kính và những không gian sinh hoạt cộng đồng mang đậm nét truyền thống người Việt xưa. Chính sự tích hợp mang tính hữu cơ này đã biến mỗi làng nghề Hà Nội trở thành một tài nguyên du lịch văn hóa vô giá, một không gian giáo dục di sản trực quan sinh động, có sức hấp dẫn đặc biệt đối với công chúng và du khách quốc tế.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Hà Nội Nguyễn Tiến Đạt nhấn mạnh: “Hệ thống hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề của Hà Nội là một lợi thế rất đặc biệt mà hiếm có Thủ đô nào trên thế giới sở hữu. Đây chính là nguồn tài nguyên văn hóa quý giá, tạo nên bản sắc riêng cho du lịch Thủ đô trong bối cảnh nhiều địa phương đang đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa”.

Thống kê của Sở Công thương Hà Nội, doanh thu từ các làng nghề Hà Nội ước đạt hơn 25.000 tỷ đồng mỗi năm, tạo việc làm cho khoảng 800.000 lao động. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội đã xuất khẩu tới 89 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...
Bên cạnh đó, chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) cũng tạo động lực mới cho phát triển làng nghề. Hiện nay Hà Nội có 100 làng nghề và làng có nghề sở hữu sản phẩm OCOP, với 929 trong tổng số 3.463 sản phẩm OCOP của thành phố là sản phẩm của làng nghề được đánh giá từ 3 sao trở lên.

Đồ sộ và giàu tiềm năng là vậy, nhưng khi đặt khối di sản khổng lồ ấy vào bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện đại và những yêu cầu khắt khe của quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, chúng ta không khỏi chạnh lòng bởi một số “điểm nghẽn” đang kìm hãm, thậm chí bào mòn sức sống nội sinh của làng nghề Hà Nội.
Dù đang nắm giữ một “mỏ vàng” lớn nhưng trong nhiều năm qua, hệ thống làng nghề Hà Nội thường được nhìn nhận và quản lý dưới lăng kính của một bộ phận cấu thành nền kinh tế nông thôn. Các chính sách thường chỉ tập trung vào việc giao cho làng nghề sứ mệnh “xóa đói giảm nghèo”, tạo việc làm nhằm giải quyết lượng lao động dôi dư trong những lúc nông nhàn, thay vì định vị nó là một ngành kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo. Điều đó vô tình làm cho làng nghề Hà Nội phát triển manh mún, nhỏ lẻ, tự phát và thiếu tầm nhìn dài hạn.

Phần lớn các cơ sở sản xuất, các xưởng thợ thủ công tại các làng nghề đều nằm đan xen, có khi “kẹt” trong các khu dân cư đông đúc. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, sự gia tăng dân số đã thu hẹp không gian sản xuất ở nhiều làng nghề Hà Nội. Những nhà xưởng chỉ rộng vài chục mét vuông, chật chội không thể nào là nơi để người thợ mở rộng quy mô, lắp đặt những dây chuyền công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh đó, các nghệ nhân làng nghề cũng thiếu không gian để xây dựng các khu trưng bày sản phẩm để tiếp thị và quảng bá, không có chỗ để đón tiếp các đoàn khách du lịch quốc tế, hay tổ chức các không gian trải nghiệm (workshops) để lan tỏa giá trị văn hóa làng nghề, sản phẩm làng nghề.

Sự quá tải về không gian sống và sản xuất kéo theo một hệ lụy mà chúng ta đã thấy là ô nhiễm môi trường. Phát triển bằng cách theo số lượng của một số ít các làng nghề, trong khi hạ tầng kỹ thuật, hệ thống xử lý chất thải chưa được đầu tư đồng bộ đã biến nhiều làng nghề vốn thanh bình trở thành vùng trũng về sinh thái. Nước thải từ các xưởng nhuộm lụa, tẩy mây tre đan; khói bụi, tiếng ồn từ các xưởng mộc, xưởng cơ khí; khí thải từ các lò nung gốm sứ thủ công... đã ảnh hưởng không nhỏ đến bầu không khí chung của cả cộng đồng.
Hơn thế nữa, ô nhiễm môi trường làm giảm khả năng phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch lưu trú (homestay) tại chính các làng nghề. Dù yêu văn hóa đến mấy thì chắc chắn, du khách cũng không mấy mặn mà trải nghiệm làng nghề có môi trường không đảm bảo. Song song với bài toán hạ tầng và môi trường, làng nghề Hà Nội còn đang phải đối mặt với sự đứt gãy thế hệ và hiện tượng “chảy máu” chất xám.

Nghề thủ công truyền thống là lĩnh vực mà ở đó con người là trung tâm, là tài sản quý giá nhất. Những nghệ nhân cao tuổi chính là những “bảo tàng sống”, những người nắm giữ linh hồn, cốt cách và những bí kíp tinh xảo nhất được tích lũy từ đời này sang đời khác. Thế nhưng, theo quy luật của thời gian, lớp nghệ nhân tinh hoa này đang dần thưa vắng, khuất bóng. Trong khi đó, việc tìm kiếm và bồi dưỡng thế hệ kế cận đang vấp phải nhiều khó khăn.
Lớp người trẻ lớn lên tại các làng nghề ngày nay đang mang trong mình tâm lý đến với những công việc có thu nhập cao. Sức hút từ các khu công nghiệp với mức lương ổn định, môi trường làm việc đảm bảo, các chế độ phúc lợi rõ ràng; hay sự hào nhoáng, năng động của các ngành dịch vụ, thương mại tại trung tâm đô thị đã làm thanh niên rời xa khung cửi, lò gốm, bàn đục... Việc ngồi hàng giờ đồng hồ tỉ mẩn, lấm lem bùn đất hay mạt cưa để tạo ra một sản phẩm thủ công đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhưng thu nhập thường bấp bênh, phụ thuộc thị trường khiến người trẻ dao động.

Thêm nữa, vị thế xã hội của người thợ thủ công trong thời gian dài chưa được tôn vinh xứng tầm, thiếu các cơ chế đãi ngộ, bảo đảm an sinh xã hội vững chắc. Khi thu nhập không đủ để bảo đảm một cuộc sống bền vững, niềm tự hào nghề nghiệp không được nuôi dưỡng đúng cách, việc lớp trẻ không còn mặn mà với nghề của cha ông là một thực tế không thể phủ nhận nhưng khó lòng trách cứ họ.
Mặt khác, việc chậm đổi mới thiết kế, rập khuôn các mẫu mã, thiếu sự giao thoa, học hỏi ngôn ngữ nghệ thuật đương đại cũng khiến sản phẩm làng nghề dần mất đi sức cạnh tranh trên thị trường. Trong chuỗi giá trị toàn cầu, nhiều làng nghề của Hà Nội còn đang ở khâu gia công thấp, bán sức lao động thô qua các đơn hàng giá rẻ thay vì vươn lên bán hàm lượng chất xám, sức sáng tạo và giá trị thương hiệu.
.png)
Và rồi, Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã chỉ rõ yêu cầu, giải pháp “phát triển khu thương mại văn hóa Bát Tràng; mở rộng không gian làng cổ Đường Lâm; bảo tồn và phát triển một số làng nghề truyền thống tiêu biểu, hình thành khu trung tâm thiết kế, giới thiệu và trình diễn sản phẩm làng nghề gắn với phát triển du lịch”…
Trên tinh thần đó, nếu không có một cú hích đủ mạnh, mang tầm vóc thể chế để định hình lại cấu trúc quản lý, đầu tư và vận hành thì khối di sản ngàn năm – làng nghề của Thăng Long – Hà Nội sẽ đứng trước nguy cơ mai một, đánh mất cơ hội trở thành trụ cột của nền công nghiệp văn hóa Thủ đô trong kỷ nguyên mới. Nhưng với tư duy đổi mới, thể chế hóa các Nghị quyết của Trung ương, Luật Thủ đô, Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm…, Thành phố Hà Nội đã kiến tạo, định hướng phát triển làng nghề, qua đó tạo bệ phóng để làng nghề Hà Nội bứt phá, khẳng định vị thế trung tâm trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa sáng tạo Thủ đô trong thời kỳ mới./.

Nội dung: Phạm Hoa / Thiết kế: Trung Kiên