Emagzine

Bài 1: “Tuyên ngôn” của Đảng về tự cường văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Nội dung: Quỳnh Phạm - Đình Thế/ Thiết kế: Trung Kiên 14/07/2026 09:41

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự cạnh tranh gay gắt về “sức mạnh mềm”, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ra đời đánh dấu bước chuyển mình mang tính lịch sử trong tư duy quản lý và phát triển văn hóa của Đảng ta. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã tháo gỡ các “nút thắt”, khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng, tạo sự đột phá về thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới.

tuyen-ngon-vanhoa-cover-54.png
t1.png

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự cạnh tranh gay gắt về “sức mạnh mềm”, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ra đời đánh dấu bước chuyển mình mang tính lịch sử trong tư duy quản lý và phát triển văn hóa của Đảng ta. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã tháo gỡ các “nút thắt”, khẳng định tầm nhìn chiến lược của Đảng, tạo sự đột phá về thể chế, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới.

tit1phu1.png

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, văn hóa luôn là nguồn lực nội sinh quan trọng, hun đúc trí tuệ, tâm hồn và bản lĩnh dân tộc Việt Nam. Ngược dòng lịch sử, Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng đã đặt nền móng, mở đường cho việc xây dựng lý luận văn hóa cách mạng Việt Nam. Sau đó, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất khai mạc ngày 24/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh hơn nữa vai trò định hướng, dẫn dắt của văn hóa đối với sự phát triển của đất nước, dân tộc, Người khẳng định: “Văn hóa phải hướng dẫn quốc dân thực hiện Độc lập, Tự cường và Tự chủ”, “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

tbthucapnhat.png

Sau ngày thống nhất đất nước ( năm 1975), đặc biệt kể từ khi bước vào công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo (từ 1986), cùng với các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, chính trị, Đảng ta tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển tư duy, nhận thức về vai trò, vị thế của văn hóa cũng như các mục tiêu phát triển văn hóa trước yêu cầu và đòi hỏi của tình hình mới. “Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” năm 1991, Đảng ta đã xác định, chúng ta cần xây dựng “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (năm 1993), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998), tới Nghị quyết số 33-NQ/TW nhấn mạnh mục tiêu “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta khẳng định: “Gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

1.png

Tới Đại hội XIV, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh định hướng phát triển giai đoạn 2026 – 2030, bao gồm: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” và đặt ra nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: “…Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Gần đây, phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh thêm: “Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Lời dạy ấy đến hôm nay càng cho thấy văn hóa không chỉ đồng hành với phát triển, mà văn hóa phải đứng ở “vị trí dẫn đường”, là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia. Nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, thì “văn hóa quyết định khả năng đi xa”. Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để đất nước vượt qua thử thách và vươn lên”.

doimaunents.png

Trước thực tiễn phát triển của đất nước, Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời mang theo một sứ mệnh đặc biệt nhằm định vị văn hóa quốc gia trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết khẳng định mạnh mẽ văn hóa là trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đây là một sự chuyển dịch hệ hình tư duy sâu sắc, yêu cầu văn hóa phải đi trước soi đường, thấm sâu vào từng quyết sách phát triển. Mục tiêu tối thượng là hướng đến mốc lịch sử 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, Việt Nam khẳng định vị thế một quốc gia phát triển có nền văn hiến lâu đời.

Đồng chí Lâm Thị Phương Thanh - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng về văn hóa, trước hết ở việc đổi mới nhận thức một cách căn bản, toàn diện về vị trí, vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia. Nếu trong các Nghị quyết trước đây, văn hóa chủ yếu được nhấn mạnh với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW, văn hóa được đặt vào vị trí nền tảng, động lực then chốt, trụ cột phát triển, hệ điều tiết quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

update1(1).png

Việc Đảng ta xác định văn hóa trở thành “hệ điều tiết” đánh dấu bước chuyển tư duy, có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đất nước vừa bước vào kỷ nguyên mới với những biến đổi nhanh ở trong nước và quốc tế. Bởi trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, văn hóa đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển con người. Khi văn hóa thấm sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ hình thành “văn hóa kinh tế”: gắn tăng trưởng với công bằng, lợi nhuận đi cùng trách nhiệm, hiệu quả gắn với lương tâm. Như vậy, văn hóa còn trở thành hệ quy chiếu giá trị để kinh tế phát triển bền vững và vì con người.

thay-2chithanh.png

Cùng đó, khi văn hóa thấm sâu vào giáo dục, khoa học, công nghệ, quản trị quốc gia và đời sống xã hội sẽ nuôi dưỡng tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Từ đó văn hóa sẽ điều tiết sự cân bằng, giúp xã hội tự điều chỉnh hướng phát triển, thích ứng linh hoạt trước biến đổi của thời đại, giữ vững bản lĩnh và giá trị cốt lõi, phát triển nhanh và bền vững. Rõ ràng, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định văn hóa là “hệ điều tiết” đã định vị vai trò to lớn của văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đó là văn hóa sẽ định hướng và cân bằng sự phát triển, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa truyền thống và hiện đại.

ts-chuc-update.png

Không chỉ có những tư duy, tầm nhìn mới nói trên, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt văn hóa ở vị trí trung tâm của đời sống xã hội, thấm sâu vào mọi lĩnh vực phát triển, trở thành “sức mạnh mềm” của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Phát triển văn hóa gắn chặt với xây dựng con người Việt Nam toàn diện trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Sự nghiệp phát triển văn hóa là của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng; đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho tương lai và phát triển bền vững của dân tộc.

Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa - Xã hội) khẳng định, Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ là một văn kiện chính trị, mà còn truyền đi một thông điệp và cảm hứng mạnh mẽ cho toàn xã hội về việc đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển. Nhìn rộng hơn, việc ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW trong bối cảnh đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới là sự tiếp nối truyền thống “đi trước một bước” của Đảng trong lĩnh vực văn hóa.

qhthongqua.png

Đặc biệt, ngày 24/4/2026, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với 477/489 đại biểu tán thành (tỉ lệ 95,40%), Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một dấu mốc lịch sử bởi việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa ngay trong kỳ họp thứ nhất, cho thấy sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực vốn được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội.

Đồng thời, điều này cũng thể hiện sự chủ động, kịp thời của Quốc hội, Chính phủ trong việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Sau khi được ban hành và đi vào thực tiễn, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam của Quốc hội sẽ tạo xung lực mới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của văn hóa – lĩnh vực nền tảng, đồng thời là động lực nội sinh quan trọng của tiến trình phát triển nhanh và bền vững đất nước.

tsbhs.png

PGS.TS Bùi Hoài Sơn (Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội) - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khẳng định việc Quốc hội ban hành Nghị quyết có ý nghĩa rất lớn, cho thấy một bước chuyển rất quan trọng trong tư duy làm chính sách: từ chỗ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực cần được quan tâm, sang chỗ xác lập văn hóa như một lĩnh vực cần có cơ chế đặc thù, nguồn lực đặc thù, và cách tiếp cận phát triển đặc thù. “Tinh thần rất lớn của Nghị quyết là không coi văn hóa là phần đứng ngoài tăng trưởng, mà coi văn hóa là một nguồn lực nội sinh, một động lực phát triển, một yếu tố tạo nên chất lượng của quốc gia, của đô thị, của đời sống Nhân dân” - PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nhấn mạnh.

tit1phu2.png

Một trong những rào cản lớn nhất trong phát triển văn hóa thời gian qua là việc thể chế hóa chủ trương còn chậm, thiếu đột phá, trong khi đầu tư lại dàn trải, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chỉ rõ những “điểm nghẽn”, đồng thời đưa ra các giải pháp căn cơ, quyết liệt thông qua các cam kết định lượng rõ ràng.

cnvhtest1.png

Lần đầu tiên, văn kiện của Đảng nhấn mạnh yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và sẽ tiếp tục tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Hơn thế, tư duy huy động nguồn lực đã được đổi mới toàn diện: Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, trong khi khu vực tư nhân và nguồn lực xã hội được xác định là động lực quan trọng.

Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng mở đường cho các mô hình kinh tế văn hóa mới thông qua các chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công tư (PPP). Các mô hình tiên tiến như lãnh đạo công - quản trị tư, đầu tư công - quản lý tư, và đầu tư tư - sử dụng công đối với các thiết chế văn hóa, thể thao chính thức được định hình. Điều này đi kèm với các chính sách ưu đãi vượt trội về đất đai và miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Việc “cởi trói” về mặt thể chế là bệ phóng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu xây dựng, phát triển các tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế.

cnvhtess2.png

Văn hóa trong kỷ nguyên hội nhập không chỉ để “thưởng thức”, bảo tồn hoặc chỉ là tấm gương phản chiếu bản sắc mà còn là một bộ phận cấu thành nền kinh tế Việt Nam. Với tầm nhìn, tư duy đột phá, Nghị quyết nhấn mạnh Việt Nam không chỉ phát triển công nghiệp văn hóa để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ trong nước, mà còn hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, âm nhạc, mỹ thuật.

Đây là những lĩnh vực có lợi thế, giàu bản sắc và khả năng hội nhập cao nếu được đầu tư bài bản, chuyên nghiệp. Từ đó, Đảng ta đặt ra mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa sẽ đóng góp 7% GDP, tiến tới 9% GDP vào năm 2045, thực sự đưa công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột của phát triển bền vững.

vnshanoihet3.png

Việt Nam đã hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa trọng điểm tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh; định hình, mở rộng và phát triển mạng lưới các thành phố sáng tạo trên cả nước. Hiện nay, Việt Nam có 3 thành phố trong Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO, gồm: Hà Nội - thành phố sáng tạo trong lĩnh vực “thiết kế”; Đà Lạt - thành phố sáng tạo trong lĩnh vực “âm nhạc”; Hội An - thành phố sáng tạo trong lĩnh vực “thủ công và nghệ thuật dân gian”. Đóng góp của công nghiệp văn hóa vào nền kinh tế ngày càng lớn, năm 2010, đạt 2,44% GDP, năm 2015: 3,5%; năm 2018 là 3,61%, tương đương khoảng 8.081 tỷ USD. Từ năm 2018 đến năm 2022, tổng giá trị của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đạt khoảng 1,059 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 44 tỷ USD.

Để làm được điều này, Việt Nam hướng tới việc hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực giàu tiềm năng với điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang. Tầm nhìn quốc tế cũng được thể hiện rõ nét qua khát vọng đưa Việt Nam vào Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index). Mở rộng mạng lưới với 1 - 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, kiến tạo Việt Nam thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện nghệ thuật quy mô toàn cầu.

Đáng chú ý, việc Đảng ta chọn ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam” là ngày nghỉ hưởng nguyên lương đã phản ánh một chính sách nhân văn, chưa từng có so với trước đây nhằm đảm bảo quyền thụ hưởng văn hóa của người dân, đồng thời tôn vinh đội ngũ sáng tạo, tạo nền tảng và bệ phóng để đội ngũ sáng tạo góp sức hiện thực các mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới mà Nghị quyết đã đặt ra.

tnt4.png
tit1phu3.png

Yếu tố con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm, là chủ thể và mục tiêu của sự phát triển. Việc xây dựng nhân cách con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ được xem là trọng tâm để định hướng các hoạt động giáo dục, khoa học và văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW chỉ rõ yêu cầu phải định hình môi trường văn hóa trong không gian phát triển của từng vùng, từng địa phương. Yêu cầu văn hóa phải “thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn” mang ý nghĩa to lớn. Thực tiễn bứt phá có thể được minh chứng rõ nét qua quá trình tái thiết các không gian văn hóa đô thị.

tnt41t.png

Tại các đại đô thị trung tâm, nơi có bề dày lịch sử ngàn năm văn hiến, bài toán hài hòa giữa phát triển hạ tầng hiện đại và bảo tồn di sản luôn là thách thức lớn. Việc áp dụng tinh thần của Nghị quyết đòi hỏi các nhà quản lý, quy hoạch đô thị phải coi không gian văn hóa là hồn cốt của thành phố. Những di tích, công trình lịch sử không chỉ cần được tu bổ, tôn tạo, mà phải được tích hợp vào nhịp sống đương đại, biến các khu dân cư thành hạt nhân văn hóa.

Việc kiến tạo các tuyến phố đi bộ, không gian nghệ thuật cộng đồng, hay các khu công nghiệp sáng tạo chính là cách để văn hóa len lỏi vào từng khối kiến trúc, tạo nên môi trường sống nhân văn, sáng - xanh - sạch - đẹp. Ở đó, sự gắn kết giữa văn hóa và quy hoạch đô thị vừa tôn vinh truyền thống, vừa tạo dư địa cho kinh tế sáng tạo cất cánh.

a-ngoc-dieuchinh.png

Để chuyển hóa các tầm nhìn vĩ mô thành hiện thực sinh động, không thể thiếu vai trò của những chủ thể thực hành và lan tỏa văn hóa. Nghị quyết đánh giá cao đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, coi họ là lực lượng nòng cốt trong việc chung tay sáng tạo và lan tỏa giá trị tốt đẹp. Cơ chế đặt hàng sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật mang tầm vóc kỷ nguyên mới, cùng với chính sách đãi ngộ xứng đáng, tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ vươn ra biển lớn, là nguồn động lực to lớn khơi dậy sức sáng tạo không giới hạn.

Bằng việc khẳng định văn hóa là “hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững”, đặt mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa đóng góp kể trên, Nghị quyết số 80-NQ/TW đồng thời trực tiếp đưa văn nghệ sĩ bước vào “nền kinh tế sáng tạo”. Sứ mệnh mới đòi hỏi người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo ra cái đẹp mà phải là những “nhà khởi nghiệp” trong lĩnh vực văn hóa. Khi Nhà nước chi tối thiểu 2% ngân sách cho văn hóa, đồng thời mở cánh cửa thể chế bằng các cơ chế hợp tác công - tư, ưu đãi thuế, đất đai cho các không gian sáng tạo thì văn nghệ sĩ, các nhà sáng tạo phải nhận thức rõ hơn trách nhiệm với quốc gia, dân tộc.

doib12chuan.png

Nguồn lực đã được khơi thông, “điểm nghẽn” cơ chế đã được tháo gỡ, Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh của văn nghệ sĩ lúc này là biến những di sản ngàn năm văn hiến, những câu chuyện lịch sử hào hùng thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị gia tăng cao – từ điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn cho đến thiết kế số. Văn nghệ sỹ, các nhà sáng tạo phải là những người làm cho văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế, tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Bên cạnh đó, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Trong xã hội hiện đại, mạng xã hội bùng nổ, cũng như hiện thực đời sống có những hiện tượng lệch chuẩn thì trí thức, văn nghệ sĩ phải là những điểm tựa tinh thần vững chắc. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ giờ đây phải giữ được sự chuẩn mực, trong sáng, phải tự đào thải những xu hướng chạy theo thị hiếu tầm thường trên các nền tảng mạng xã hội để thực sự trở thành những hình mẫu về chuẩn mực văn hóa ứng xử, lan tỏa năng lượng tích cực đến hàng triệu công chúng.

nghi-quyet-van-hoa-26b1them.png

Và quá trình cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ở nước ta đã, đang đạt được những kết quả ban đầu như mục tiêu đặt ra. Phát biểu tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, qua nửa năm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW chúng ta đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn, góp phần thúc đẩy ổn định và phát triển xã hội. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương đã được thiết lập; 100% bộ, ngành, địa phương đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành, tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, như: Nghị quyết số 28/2026 của Quốc hội; Kế hoạch triển khai của Chính phủ; Kế hoạch triển khai đồng bộ các hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới và Nghị định của Chính phủ về hạ tầng văn hoá số. Một số địa phương đã chủ động xây dựng không gian sáng tạo, số hóa di sản, phát triển sản phẩm văn hóa và huy động doanh nghiệp, cộng đồng tham gia.

capnhat1nqvh.png

Rõ ràng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị không đơn thuần là một bản “quy hoạch chính sách”, mà là một bản “tuyên ngôn” về sự tự cường văn hóa của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 21 cũng như chặng đường phát triển mới.

Bằng việc định vị rõ ràng các mục tiêu kinh tế - văn hóa đan xen, trao quyền mạnh mẽ cho các chủ thể sáng tạo, chú trọng xây dựng con người, Nghị quyết số 80-NQ/TW tạo ra bệ phóng pháp lý và tư tưởng vững chắc để “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại” và tiến tới “nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa” vào dịp 100 năm thành lập nước./.

nghi-quyet-van-hoa-26them2(1).png

Nội dung: Quỳnh Phạm - Đình Thế.

Thiết kế: Trung Kiên.

Nội dung: Quỳnh Phạm - Đình Thế/ Thiết kế: Trung Kiên