Thương giậu tầm xuân
Chiều chầm chậm rơi trước hiên nhà, nhìn nắng nghiêng qua hàng rào đã cũ, tôi lại nhớ đến giậu tầm xuân của những ngày xưa ấy. Không kiêu sa rực rỡ như hồng, tầm xuân như loài hoa dại chỉ lặng lẽ leo lên bờ rào, nương vào từng mắt lưới kẽm, từng cọc tre mảnh, mà nở những chùm hoa nhỏ xíu.
Tầm xuân vốn không phải loài hoa xa lạ trong dân gian. Nó đã đi vào câu ca, lời hát và đi vào cả những mối duyên chưa trọn vẹn. Người ta vẫn nhắc đến “giậu tầm xuân” như nhắc một miền ký ức, nơi có cô gái đứng chờ, nơi tình yêu vừa chớm đã mang màu e ấp. Không biết từ bao giờ, giậu tầm xuân trở thành biểu tượng của những điều chưa nói thành lời, của một nỗi thương còn giữ ở đầu môi.

Ngày còn nhỏ, tôi sống trong một căn nhà mái ngói cũ ở vùng quê. Trước cổng là hàng rào tre ba tôi tự tay dựng lên. Mẹ xin đâu đó một nhánh tầm xuân nhỏ, trồng sát chân rào. Ban đầu chỉ là một cọng xanh yếu ớt, ấy vậy mà qua vài mùa mưa nắng, nó bám chặt, leo dần, quấn lấy từng nan tre, phủ kín cả một khoảng rào. Mỗi khi hoa nở, cả khoảng sân bỗng trở nên vô cùng dịu dàng, lãng mạn. Những cánh hoa hồng hồng nhỏ xíu cánh mỏng đơn sơ. Hương của nó cũng rất nhẹ, phải đứng gần mới nhận ra mùi thơm phơn phớt. Tôi rất thích ngắm giậu tầm xuân qua cửa sổ phòng học. Cũng từ cửa sổ ấy, tôi thấy mẹ đi chợ ngang qua giậu tầm xuân; thấy ba từ xóm về, tựa chiếc xe đạp vào hàng rào. Giậu tầm xuân gắn liền với bao kỷ niệm thời thơ ấu.
Khi tôi rời quê, hàng rào tre đã mục dần. Ba tôi thay bằng bức tường xây, giậu tầm xuân cũng bị bỏ đi sạch sẽ. Một mùa xuân tôi trở về nhà, chỉ thấy khoảng sân trống trải, gió lùa thẳng vào hiên. Không còn sắc hồng mỏng manh ấy làm tôi thấy thiếu vắng một điều gì đó. Thế rồi tôi về trồng một giậu tầm xuân nhỏ nơi căn nhà mới xây. Đất ở đây nhiều nắng, gió cũng khô hơn, tôi lo cây không quen nhưng rồi nó cũng leo theo khung sắt trước sân mà lớn dần. Bạn bè thấy tôi trồng tầm xuân liền bảo bỏ đi, nào là trồng hoa hồng đẹp hơn, nào là tầm xuân lâu nở lắm. Nhưng rồi tôi vẫn kiên trì đợi đến mùa hoa nở. Mỗi lần nhìn hoa, tôi lại thấy sống lại trong lòng bao kỷ niệm, như thể một phần tuổi thơ theo ký ức gọi về.
Tôi thường pha trà ngồi ngắm giậu tầm xuân trước sân, rồi vui mừng khi bông hoa hé mở, cánh còn ướt đẫm sương khuya. Tôi nhớ hai câu ca dao xưa: “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc, em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay”. Tôi từng tự hỏi, vì sao người xưa không chọn một loài hoa khác để gửi gắm nỗi niềm, mà lại là tầm xuân. Có lẽ nó là một loài hoa mà có khi trồng một năm, có khi trồng ba năm mới nở. Yêu thương nhưng không thể đợi chờ, thời của một người con gái rồi sẽ qua đi.

Cũng như tôi thương giậu tầm xuân, là thương cho một thời đã qua, thương những bóng dáng cũ, thương sự đợi chờ không đòi đáp lại. Thương cả những nhành gai đã lỡ cứa vào tay mình thuở nhỏ. Bây giờ, mỗi lần đi ngang những ngôi nhà cũ còn giữ hàng rào phủ hoa, tôi đều thấy trong lòng mình một niềm thương khó tả. Có lẽ nơi đó có bóng dáng của bao người phụ nữ từng chờ đợi, từng yêu thương. Tôi thương giậu tầm xuân như thương cho những điều mỏng manh trong đời, những điều giản dị nhưng bền bỉ.
Một buổi chiều cuối xuân, tôi chạm tay vào nhành tầm xuân trước hiên nhà, gai vẫn nhọn, hoa vẫn mềm, nắng vẫn nghiêng qua từng kẽ lá. Tôi nghe trong lòng mình một khoảng lặng rất sâu, như thể vừa đi qua một miền ký ức không thể nào quên. Giậu tầm xuân vẫn ở đó, trong sân nhà, trong câu ca dao cũ và trong trái tim người đàn bà đã đi qua bao mùa thương nhớ./.