Văn hóa – Di sản

Rối nước viễn du thời đại số

Hoàng Hà 08:15 01/06/2026

Từ bóng nước lung linh dưới mái thủy đình rêu phong, múa rối nước đang bước vào hành trình "viễn du xuyên thế kỷ" đến nhịp sống đương đại. Không còn bó hẹp trong không gian truyền thống, di sản được mở rộng biên độ tiếp cận khán giả qua mô hình sản phẩm công nghiệp văn hóa và tư duy sáng tạo của thế hệ trẻ. Hành trình ấy vừa nâng niu những giá trị cốt lõi, vừa âm thầm định hình diện mạo mới, để tiếng cười của chú Tễu vẫn ngân vang, rộn rã giữa Thủ đô văn hiến.

Đưa rối nước thành trải nghiệm đương đại

Tại làng múa rối nước Đào Thục, xã Thư Lâm, Hà Nội, âm thanh của trống hội, tiếng nước khẽ dội và nụ cười tinh nghịch của chú Tễu vẫn lan tỏa như một mạch ngầm ký ức. Nhưng đằng sau vẻ quen thuộc ấy, khung cảnh ngày nay đã có những thay đổi. Nếu trước đây, khán giả chủ yếu dừng lại ở việc “xem” một buổi diễn, thì nay sân khấu múa rối trở thành "không gian mở", nơi mọi người được trực tiếp tương tác, cảm nhận, tìm hiểu di sản.

Mới đây, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố do Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai đã gợi mở một hướng tiếp cận đáng chú ý: kiến tạo mô hình công nghiệp văn hóa phức hợp, trong đó nghệ thuật biểu diễn, du lịch và giáo dục di sản không tồn tại riêng lẻ mà đan cài thành một chỉnh thể hữu cơ. Đặc biệt, rối nước được đặt vào một chương trình trải nghiệm liên tục.

mua-roi-nuoc-dang-den-gan-hon-voi-gioi-tre.jpg
Múa rối nước đang đến gần hơn với giới trẻ. Ảnh VGP

Với lịch sử hơn 300 năm, làng múa rối nước Đào Thục vốn là một trong những cái nôi của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam. Trong mô hình mới, giá trị của làng không chỉ nằm ở tuổi đời hay kỹ thuật biểu diễn, mà ở khả năng kể lại chính mình bằng ngôn ngữ của hiện tại. Từ khoảng 30 tích trò truyền thống, các nghệ nhân và nhà khoa học chọn lọc những tiết mục tiêu biểu nhất để giới thiệu. Người tham gia còn được tiếp xúc trực tiếp với di sản: chạm vào thớ gỗ, cảm nhận độ nặng của con rối, thử điều khiển những chuyển động vốn được giấu kín sau làn nước, tìm hiểu quá trình chế tác…
Song song với đó là một hệ sinh thái trải nghiệm: từ tuồng Lương Quy, chèo Vân Hà, ca trù Lỗ Khê đến các trò chơi dân gian, nghề thủ công, ẩm thực địa phương. Mỗi hoạt động là một lớp văn hóa được “xâu chuỗi” để tạo nên một câu chuyện tổng thể về vùng đất, từ đó gây ấn tượng sống động với khách tham dự.

Phó Trưởng phòng Quản lý di sản, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội Bùi Thị Hương Thủy cho biết, Thư Lâm là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa bậc nhất trong các phường, xã trên địa bàn Hà Nội hiện nay, nhất là di sản văn hóa phi vật thể. Mô hình công nghiệp văn hóa phức hợp là sản phẩm đầu tiên khai thác cùng lúc nhiều giá trị văn hóa phi vật thể được "đóng gói" và đưa ra thị trường, trong đó điểm nhấn là rối nước. Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ủng hộ xu hướng này và tạo mọi điều kiện để các nghệ nhân có thể cống hiến, phát huy khả năng. Kết quả từ mô hình thí điểm này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố.

Đáng chú ý, sau khi nghiệm thu, toàn bộ chương trình sẽ được bàn giao lại cho chính quyền, nhân dân địa phương như một sản phẩm công nghiệp văn hóa hoàn chỉnh để nhân dân địa phương khai thác. Phó Chủ tịch UBND xã Thư Lâm Nguyễn Thành Luân khẳng định: Đây là tiền đề quan trọng để địa phương tiếp tục nghiên cứu, nhân rộng mô hình trong thời gian tới để phát triển sản phẩm văn hóa đặc trưng, phát huy giá trị di sản trong đời sống đương đại. Dự tính, xã Thư Lâm sẽ đầu tư phát triển một tổ hợp biểu diễn nghệ thuật truyền thống với hạt nhân là không gian văn hóa của làng rối nước Đào Thục để phục vụ phát triển du lịch nói riêng, công nghiệp văn hóa nói chung.

Làm mới di sản bằng sáng tạo

Nếu mô hình tại Thư Lâm đại diện cho cách tiếp cận tổng thể, liên ngành, đưa rối nước trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, thì một dòng chảy khác đang âm thầm lan tỏa từ chính giới trẻ - những người lựa chọn làm mới di sản bằng sáng tạo và nhu cầu biểu đạt cá nhân.

trien-lam-the-art-of-water-tai-bao-tang-ha-noi.jpg
Triển lãm “The Art of water” tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh BTC

Trong đó, dự án RỐICONIC của các sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền ra đời tháng 11/2025, đưa khán giả vào không gian nối tiếp những điểm chạm: trưng bày, trò chuyện, thực hành, tương tác. Điểm nhấn của dự án là workshop “Họa màu trên rối mộc”. Ở đó, người tham gia có thể chạm vào, tô màu, thậm chí “thổi hồn” con rối bằng chính trí tưởng tượng của mình. Dự án còn mở rộng sang sản phẩm như boardgame RỐIGENZ!, với 27 nhân vật lấy cảm hứng từ con rối dân gian. Đây là cách đưa di sản vào đời sống thường nhật, thay vì giữ nó trong không gian xưa cũ.

Chị Nghiêm Trà My - Trưởng ban tổ chức dự án chia sẻ: “Muốn công chúng yêu di sản, trước hết phải để họ hiểu giá trị lao động và sự tinh tế ẩn sau mỗi tác phẩm. Thông qua tương tác trực tiếp, chúng tôi mong người trẻ hình thành sự trân trọng lâu dài, không chỉ dừng lại ở tò mò nhất thời”.

Dự án “Ngọc Thủy Đình” lại lựa chọn công nghệ như một lớp ngôn ngữ mới. Chuỗi video đa nền tảng kể lại câu chuyện của nghệ sĩ rối nước bằng nhịp điệu kể chuyện gần gũi, phù hợp với thói quen tiếp nhận của thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, triển lãm "THE ARt of WATER" tại Bảo tàng Hà Nội mới đây lại mở ra một không gian sáng tạo mới nơi thực và ảo giao thoa. Công nghệ thực tế tăng cường tái hiện 17 tích trò trên nền tảng số cho phép người xem quét mã QR để quan sát chuyển động và tạo hình của từng nhân vật. Cùng với đó, hiện vật và mô hình thủy đình với sự đồng hành của Nhà hát Múa rối Thăng Long cũng được giới thiệu như chất liệu của truyền thống.

Không thay thế sân khấu thực, công nghệ đóng vai trò như “lớp dẫn nhập” mang đến khám phá độc đáo, nơi những con rối xưa cùng tích trò dân gian được khoác lên hình hài mới để di sản gặp gỡ sáng tạo. Nó giúp người xem bước qua rào cản ban đầu, từ đó tìm đến những trải nghiệm sâu sắc hơn. Chị Nguyễn Minh Trang - Trưởng ban tổ chức dự án cho biết: Dự án mong muốn rối nước được kể lại bằng ngôn ngữ gần gũi hơn để giới trẻ không cảm thấy xa lạ. Nhận định về dự án, nghệ nhân Nguyễn Viên, phường rối Chàng Sơn cho rằng việc ứng dụng công nghệ như một cách mở rộng không gian tồn tại của múa rối nước, đồng thời tăng khả năng tiếp cận và sức hấp dẫn cho nghệ thuật này trong bối cảnh hiện nay.

Từ sân khấu làng đến công nghiệp văn hóa

Nghệ thuật múa rối nước độc đáo của Việt Nam có lịch sử gần một thiên niên kỷ, từng là “bảo tàng sống” của văn hóa nông nghiệp lúa nước. Tuy nhiên, trong đời sống hiện đại, loại hình này đang đối mặt với một nghịch lý: được bạn bè quốc tế yêu thích nhưng lại dần xa rời phần lớn khán giả trẻ trong nước.

Theo NSND Hoàng Tuấn - nguyên Giám đốc Nhà hát Múa rối Thăng Long, vào đầu thế kỷ XX, Hà Nội từng có hơn 20 phường rối nhưng nay chỉ còn một nửa. Những khó khăn về kinh phí, cơ sở vật chất, lực lượng kế cận… đang đặt ra bài toán tồn tại cho loại hình nghệ thuật này.

Trong bối cảnh đó, những sáng tạo - từ đưa rối trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa ở xã Thư Lâm đến các dự án của giới trẻ không chỉ là thử nghiệm mà còn là lời giải cho bài toán phát huy di sản.

Điểm chung của các mô hình là đưa rối nước trở lại đời sống, xuất hiện trong trường học, không gian bảo tàng, trung tâm thương mại hay nền tảng số… Chính những điểm giao giữa truyền thống và hiện đại đã tạo ra cơ hội để di sản “tái sinh”. Tuy nhiên, đổi mới không đồng nghĩa với đánh mất bản sắc. Các chuyên gia đều nhấn mạnh: mọi sáng tạo phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về giá trị cốt lõi. Nếu chạy theo thị hiếu mà bỏ qua bản chất, di sản có nguy cơ bị pha tạp và mất đi nét đặc sắc.

hoc-sinh-trai-nghiem-mua-roi-nuoc.jpg
Học sinh trải nghiệm múa rối nước. Ảnh SIS

Từ những thủy đình cổ kính ở ngoại thành Hà Nội đến các không gian trưng bày, biểu diễn giữa lòng đô thị hiện đại, múa rối nước đang dịch chuyển qua nhiều hình thái biểu đạt khác nhau. Hành trình ấy không chỉ là câu chuyện của bảo tồn mà còn là quá trình tự làm mới để thích ứng với thời đại. Khi những con rối còn chuyển động trên mặt nước, khi tiếng cười chú Tễu vẫn ngân vang đầy sức hút với khán giả trẻ, di sản dân gian này sẽ tiếp tục phát triển trong đời sống hôm nay./.

Hoàng Hà