Chính sách - Quản lý

Hà Nội đẩy mạnh chuyển đổi số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa

Duy Minh 14:26 25/05/2026

Văn phòng UBND Thành phố vừa ban hành Thông báo số 404/TB-VP ngày 19/5/2026 về kết luận của Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng tại cuộc họp nghe báo cáo về chuyển đổi số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa.

687895562_1424953763003655_2467214972126608687_n.jpg
Thành phố sẽ thí điểm các giải pháp quản lý số toàn diện tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám...

Theo kết luận, Thành phố xác định công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa phải đi vào thực chất; kiên quyết khắc phục tình trạng triển khai hình thức, phong trào, rời rạc và thiếu tính kết nối. Mọi ứng dụng công nghệ (mã QR, tham quan thực tế ảo, bản đồ số, nền tảng dữ liệu...) phải phục vụ trực tiếp, thiết thực cho công tác quản lý nhà nước, bảo tồn di sản, phát triển du lịch, thương mại và nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Chuyển đổi tư duy từ "số hóa đơn lẻ" sang "xây dựng hệ sinh thái dữ liệu dùng chung". Hệ thống dữ liệu phải được chuẩn hóa, tích hợp và chia sẻ liên thông giữa các cấp, các ngành thông qua nền tảng và giao diện lập trình ứng dụng (API).

Quán triệt quan điểm: "Di sản là nền tảng, dữ liệu là hạ tầng, thiết kế là công cụ, công nghệ là phương thức mở rộng, doanh nghiệp là động lực, người dân và du khách là trung tâm".

Trong Quý II/2026, Thành phố sẽ đề xuất các hoạt động phối hợp với Trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ các sáng kiến và sản phẩm văn hóa thông qua Quỹ đầu tư mạo hiểm, đồng thời hoàn thành quy chế phối hợp.

Quý III/2026 tập trung vào việc rà soát, đánh giá hiện trạng dữ liệu và lập danh mục dữ liệu ưu tiên số hóa. Một danh mục dữ liệu chuyên ngành với cấu trúc, thành phần và yêu cầu chuẩn hóa thống nhất sẽ được xây dựng và ban hành.

Đồng thời, Thành phố sẽ thí điểm các giải pháp quản lý số toàn diện tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Nhà tù Hỏa Lò, Bảo tàng Hà Nội, Thư viện Hà Nội và Nhà hát Múa rối Thăng Long. Công tác số hóa toàn bộ di tích, di vật, tư liệu và hồ sơ khoa học tại Hoàng thành Thăng Long, di tích Cổ Loa cũng sẽ hoàn thành. Ứng dụng công nghệ hiện đại như GIS, 3D, VR/AR sẽ được sử dụng để xây dựng các sản phẩm du lịch số gắn liền với di sản.

Bước sang Quý IV/2026, Hệ thống Cơ sở dữ liệu số lĩnh vực văn hóa dùng chung của Thành phố sẽ được hoàn thiện, đảm bảo khả năng kết nối và chia sẻ với CSDL quốc gia và các nền tảng số khác. Các sản phẩm như video clip, phim tài liệu ngắn, triển lãm số, tour tham quan ảo, ứng dụng thuyết minh tự động và số hóa 3D độ chính xác cao cho di sản sẽ được triển khai.

Mô hình phát triển theo chuỗi "thiết kế - sản xuất - phân phối - tiêu dùng - xuất khẩu" sẽ được áp dụng tại nội đô và ngoại thành, gắn với việc tái thiết các cơ sở công nghiệp cũ. Mục tiêu là hoàn thành số hóa đối với di tích quốc gia đặc biệt và các CSDL chuyên ngành trọng điểm ngay trong năm 2026.

Quý II/2027 đánh dấu giai đoạn vận hành và nhân rộng. Các sản phẩm số phát triển từ cuối năm 2026 sẽ được đưa vào vận hành và nhân rộng phục vụ du khách. Trong năm 2027, bộ tiêu chí đánh giá TEV (Total Economic Value) cho khu vực Văn Miếu - Quốc Tử Giám và các khu di sản tiêu biểu sẽ được lập ra nhằm thu hút đầu tư, khai thác theo mô hình hợp tác công tư.

Lộ trình đến năm 2030 đặt mục tiêu đầy tham vọng: hoàn thành số hóa 100% di tích quốc gia đặc biệt trong năm 2026, đồng thời hoàn thiện nền tảng CSDL mở. Tỷ lệ số hóa dự kiến đạt 50% vào năm 2027 và 70% vào năm 2030. Doanh thu lĩnh vực văn hóa số dự kiến chiếm 15% giai đoạn 2026-2027 và đạt 30% vào năm 2030. Tỷ lệ gia tăng số lượng doanh nghiệp văn hóa số dự kiến đạt 10% (2026-2028) và tiến tới mục tiêu 50-60% vào năm 2030.

Để hiện thực hóa những mục tiêu này, Thành phố khuyến khích và đẩy mạnh phương thức hợp tác công tư (PPP) trong việc cung cấp dịch vụ số, hệ thống vé điện tử và phát triển các sản phẩm văn hóa số thương mại. Thành phố cũng sẽ nghiên cứu, đề xuất các cơ chế đặc thù hỗ trợ doanh nghiệp văn hóa số, xem xét việc thành lập hoặc huy động Quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo, áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế và phí tiếp cận hạ tầng./.

Duy Minh