Chủ tịch Hồ Chí Minh với non sông đất nước và tình yêu đặc biệt dành cho Thủ đô Hà Nội
Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thành kính tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đồng thời để lại dấu ấn sâu đậm đối với Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội – nơi luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt, những tình cảm sâu nặng và những lời căn dặn tâm huyết của Người.

Hành trình tìm đường cứu nước và sự nghiệp cách mạng vĩ đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học tên là Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, sau đổi tên là Hồ Chí Minh, sinh ngày 19/5/1890 tại làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước.
Lớn lên trong cảnh đất nước lầm than, chứng kiến các phong trào yêu nước kháng Pháp với các xu hướng khác nhau tiêu biểu như phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu, phong trào Duy tân của cụ Phan Chu Trinh hay phong trào khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám…, nổ ra liên tiếp nhưng đều thất bại vì chưa có một đường lối đúng đắn; chứng kiến sự bóc lột, đày đọa tàn bạo của thực dân Pháp với người dân; mắt thấy, tai nghe về sự hy sinh xương máu của đồng bào, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm nung nấu ý chí ra nước ngoài, xem các nước khác, “sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. Ngày 5/6/1911, Người xin làm phụ bếp trên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời bến cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseille) bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.
Gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã đi qua nhiều quốc gia, làm nhiều nghề khác nhau, tham gia phong trào cách mạng quốc tế và không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Ngày 18/6/1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gửi tới Hội nghị Vécxây Bản yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng cho dân tộc Việt Nam.
Năm 1920, tại Đại hội Tua, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Những năm tiếp theo, Người tích cực tham gia các tổ chức cách mạng quốc tế, xuất bản báo Người cùng khổ, viết tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, đồng thời chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam.
Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á; xuất bản cuốn sách Bản án chế độ thực dân Pháp... Để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản tại Việt Nam, năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức Cộng sản Đoàn, đào tạo cán bộ để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.
Năm 1929, ba tổ chức: Đông Dương Cộng sản Đảng; An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời tại Việt Nam. Được sự phân công của Quốc tế cộng sản, ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thống nhất ba tổ chức trên, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ năm 1930 - 1940, Người tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức khác trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ, bị bắt giam và tù đày, cô lập.
Năm 1941, Người về nước triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946), Người được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lãnh tụ của những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi vẻ vang với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Sau khi miền Bắc được giải phóng, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 tiếp tục bầu Người làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II và khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đề ra đường lối đúng đắn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo nền tảng quan trọng đi tới thắng lợi cuối cùng; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, để lại Di chúc – một văn kiện lịch sử vô giá kết tinh tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Người. Sự ra đi của Người là tổn thất to lớn, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn Đảng, toàn dân và bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập dân tộc, tinh thần quốc tế cao cả và khát vọng hòa bình, tiến bộ của nhân loại.
Tình cảm sâu nặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội sự quan tâm đặc biệt. Những địa danh như Bắc Bộ phủ, Ba Đình, Vạn Phúc, Phủ Chủ tịch, chùa Trầm, Thanh Oai… đều in đậm dấu ấn hoạt động và tình cảm của Người với Thủ đô.
Sau thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc trở về Thủ đô. Tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Người viết bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Người thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam đã được độc lập, nhân dân Việt Nam đã được tự do...
Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, ngày 19/12/1946, tại Vạn Phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, hiệu triệu toàn dân đứng lên bảo vệ độc lập dân tộc.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Người thường xuyên gửi thư động viên đồng bào, chiến sĩ Thủ đô, đặc biệt là các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Những lời căn dặn, động viên của Người đã trở thành nguồn cổ vũ to lớn để quân và dân Hà Nội vượt qua gian khổ, cùng cả nước đi tới thắng lợi.
Sau ngày Thủ đô giải phóng tháng 10/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân Hà Nội đoàn kết, vượt qua khó khăn, khôi phục và phát triển Thủ đô, xây dựng Hà Nội trở thành “một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh”.
Người luôn nhấn mạnh việc giữ gìn truyền thống “ngàn năm văn hiến”, phát huy thuần phong mỹ tục và xây dựng nếp sống văn minh cho Thủ đô.
Hà Nội phải là Thủ đô xã hội chủ nghĩa gương mẫu
Sau khi trở về Thủ đô, dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã in đậm tại nhiều công trường, nhà máy, trường học, bệnh viện, đơn vị bộ đội, khu phố và vùng ngoại thành Hà Nội. Gần như năm nào Người cũng đi chúc Tết Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô; thường xuyên nghe báo cáo tình hình và trực tiếp đi kiểm tra cơ sở.
Người đặc biệt quan tâm tới công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, tăng gia sản xuất, phòng chống thiên tai, giáo dục, xây dựng đời sống mới và giữ gìn trật tự xã hội.
Tại Hội nghị cán bộ toàn Đảng bộ Hà Nội ngày 25/4/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm xây dựng “Thủ đô Hà Nội phải trở thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa”. Người yêu cầu Hà Nội phải củng cố và phát triển Đảng; mỗi cơ quan, trường học, xí nghiệp, đơn vị, khu phố, nông thôn đều phải trở thành “một pháo đài của chủ nghĩa xã hội”.
Người căn dặn cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao tinh thần tập thể; luôn gương mẫu trong công tác và đời sống. Người nhấn mạnh: “Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các đảng bộ khác”.
Tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, Đảng bộ “bốn tốt” ở ngoại thành Hà Nội ngày 18/12/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đảng viên phải luôn liên hệ mật thiết với quần chúng, nêu cao tinh thần chí công vô tư, cần kiệm liêm chính và gương mẫu trong mọi công tác.
Ngày 14/5/1966, tại lớp huấn luyện đảng viên mới, Người tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu học tập lý luận Mác - Lênin, học tập đường lối của Đảng, gắn lý luận với thực tiễn; đồng thời phải gương mẫu trong sản xuất, chiến đấu và đạo đức cách mạng.
Những năm sau, Người gửi nhiều thư khen đồng bào, bộ đội và cán bộ Thủ đô; thư khen quân và dân Hà Nội đã đạt thành tích trong lao động sản xuất, trong giữ gìn an ninh trật tự, trong bắn rơi máy bay Mỹ... để bảo vệ Thủ đô, góp phần củng cố và phát triển Thủ đô khi đế quốc Mỹ ngày càng leo thang chiến tranh và phá hoại miền Bắc về mọi mặt, trong đó có Hà Nội...
Tết Kỷ Dậu năm 1969, trước khi đi xa không lâu, Người đã tham gia trồng cây tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì, mở đầu “Tết trồng cây” lần thứ 10 do chính Người khởi xướng.
Ánh sáng soi đường cho hôm nay và mai sau
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song tư tưởng, đạo đức, phong cách và những lời căn dặn của Người vẫn mãi là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội.
Trong những năm tháng kháng chiến cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay, Hà Nội luôn nỗ lực phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng; giữ vững vai trò là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa của cả nước; xứng đáng với niềm tin yêu và kỳ vọng của nhân dân cả nước.
Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; chung sức xây dựng Thủ đô và đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới./.