Đời sống văn hóa

Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở giải pháp chính sách

Hoa Quỳnh 09:22 10/05/2026

“Muốn đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam vào thực tiễn một cách hiệu quả, cần chú trọng đồng thời: thúc đẩy thể chế hóa, cụ thể hóa chính sách một cách kịp thời và chính xác; thực hiện đầu tư theo hướng có trọng tâm và trọng điểm; xây dựng năng lực con người và dữ liệu làm nền cho thực thi; tạo cơ chế để toàn xã hội cùng trở thành chủ thể đồng kiến tạo và đóng góp cho văn hóa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam) nêu ý kiến.

Hoàn thiện thể chế theo hướng tích hợp, liên ngành và có khả năng thực thi

Theo PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy, giải pháp mang tính nền tảng là đẩy nhanh thể chế hóa Nghị quyết số 80 theo hướng tích hợp và hiện đại, có tính liên ngành. Trọng tâm không chỉ là sửa đổi từng luật riêng lẻ, mà cần xây dựng một cấu trúc/khung thể chế thực thi thống nhất cho phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

pgsthuy(1).jpg
PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy.

Khung thể chế này phải làm rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành; thiết kế các cơ chế, công cụ huy động và sử dụng nguồn lực; xác lập cơ chế quản trị dữ liệu, bản quyền, nền tảng số và chủ quyền văn hóa số; hệ thống chỉ tiêu, báo cáo, giám sát và đánh giá kết quả. Cần ưu tiên rà soát các quy định còn chồng chéo giữa văn hóa, du lịch, đầu tư, thuế, đất đai, thương mại điện tử, sở hữu trí tuệ, an ninh mạng và dữ liệu… để tránh tình trạng một hoạt động phải chịu sự điều chỉnh bởi nhiều cơ chế mâu thuẫn nhau. Nhất quán trong chuyển mạnh từ tiền kiểm hành chính sang hậu kiểm thông minh, quản lý rủi ro và kiến tạo môi trường phát triển.

Đồng thời, nên nghiên cứu xây dựng một chương trình lập pháp hoặc đề án thể chế hóa Nghị quyết số 80 theo lộ trình 2026-2030, trong đó xác định rõ văn bản nào cần sửa, văn bản nào cần ban hành mới, cơ quan chủ trì, mốc tiến độ và chỉ tiêu đầu ra.

Để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, cần có các quy định đủ rõ về hợp tác công tư (PPP), cơ chế đặt hàng, cơ chế quỹ hỗ trợ sáng tạo, cơ chế ươm tạo doanh nghiệp văn hóa, tiêu chuẩn khai thác thiết chế công cộng, cũng như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình kinh doanh văn hóa số mới… Cách tiếp cận này sẽ giúp giảm “độ trễ thực thi” vốn là điểm yếu cố hữu của nhiều nghị quyết trước.

Chuyển từ đầu tư dàn trải sang đầu tư chiến lược, có trọng tâm

Về tài chính, PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy cho rằng cần coi việc bảo đảm tỷ lệ chi cho văn hóa là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Chú ý chuyển cơ chế phân bổ từ dàn trải sang trọng điểm.

Theo đó, ngân sách nhà nước nên tập trung vào các nhóm ưu tiên như: hạ tầng dữ liệu và nền tảng số dùng chung; đào tạo và đãi ngộ nhân tài văn hóa; bảo tồn di sản cấp bách và số hóa di sản; xây dựng các thiết chế văn hóa công cộng quan trọng ở các địa bàn khó khăn; đặt hàng sáng tạo các công trình, tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật và biểu tượng quốc gia. Những hạng mục này có đặc điểm chung là thị trường khó tự đầu tư, huy động vốn, nhưng tác động lan tỏa xã hội là rất lớn.

hanoivatoi.jpg
NSND Trần Quốc Chiêm - Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa trao giải Nhất cuộc thi viết “Hà Nội & Tôi” lần thứ nhất do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, cho tác giả Đào Thị Thu Hiền (Hà Nội) với tác phẩm “Hà Nội trong tôi có một cây cầu và dòng sông”. (Ảnh tư liệu).

Song song đó, cần nhanh chóng hình thành bộ công cụ huy động vốn xã hội cho văn hóa. Bộ công cụ này nên bao gồm: ưu đãi thuế cho đầu tư vào thiết chế và nội dung văn hóa; quỹ đồng tài trợ giữa nhà nước và tư nhân cho sáng tạo; đặt hàng dịch vụ công văn hóa thông qua cơ chế cạnh tranh; chính sách tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp sáng tạo; khung PPP riêng cho di sản, bảo tàng, không gian sáng tạo, công trình biểu diễn, hạ tầng số văn hóa; và mô hình đầu tư bổ sung đối với một số sản phẩm văn hóa có hiệu quả xã hội.

Chỉ khi tạo được các công cụ như vậy, đầu tư nhà nước sẽ hiệu quả hơn, đồng thời huy động được nguồn lực từ xã hội mới có thể trở thành hiện thực.

Phát triển nguồn nhân lực văn hóa theo logic mới: sáng tạo, quản trị, công nghệ

PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy khuyến nghị, cần xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực văn hóa theo 3 thành phần chính: nhân lực sáng tạo (bao gồm đội ngũ các nhà khoa học, nghệ sĩ…); nhân lực quản trị; và nhân lực về công nghệ, dữ liệu, bản quyền.

Với nhân lực sáng tạo, cần có học bổng, quỹ tài năng trẻ, chương trình trao đổi quốc tế, các dự án nghiên cứu, sáng tạo và cơ chế đặt hàng minh bạch, cạnh tranh. Với nhân lực quản trị, cần đào tạo về chính sách, quản trị dự án văn hóa, thống kê văn hóa, truyền thông, marketing, pháp luật, quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược. Với nhân lực công nghệ, cần đầu tư cho các nhóm ứng dụng chuyên sâu về số hóa di sản, dữ liệu văn hóa, phân tích thị hiếu, giám sát bản quyền số và ứng dụng AI trong lĩnh vực văn hóa.

Bên cạnh đào tạo, cần cải cách cơ chế sử dụng nhân lực. Một số đơn vị công lập trong lĩnh vực văn hóa hiện khó thu hút người giỏi vì cơ chế tiền lương, tuyển dụng và giao việc chưa phù hợp. Cần mạnh dạn thí điểm cơ chế hợp đồng chuyên gia, tuyển dụng đặc cách theo năng lực, đặt hàng dịch vụ chuyên môn từ bên ngoài và kết nối viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp - đơn vị văn hóa trong các dự án cụ thể. Nếu không tháo gỡ cơ chế sử dụng nhân lực, rất khó tạo ra những đột phá thực sự.

Lấy chuyển đổi số và dữ liệu làm trục xuyên suốt

Triển khai Nghị quyết số 80 cần coi chuyển đổi số là trục xuyên suốt chứ không chỉ là một hợp phần kỹ thuật. Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia theo nguyên tắc chuẩn hóa, liên thông, mở có kiểm soát và cập nhật thường xuyên. Cơ sở dữ liệu này phải phục vụ đồng thời bốn mục tiêu: quản lý nhà nước; nghiên cứu và hoạch định chính sách; hỗ trợ thị trường và doanh nghiệp sáng tạo; nâng cao khả năng tiếp cận, trải nghiệm và tham gia của công chúng.

Việc số hóa di sản phải gắn với chuẩn dữ liệu, bản đồ số, kho dữ liệu mở phù hợp, quyền tiếp cận của cộng đồng nghiên cứu và công cụ khai thác cho giáo dục, du lịch, truyền thông, sáng tạo nội dung. Nếu chỉ số hóa để “lưu trữ” mà không tạo ra hệ sinh thái sử dụng thì hiệu quả sẽ thấp.

di-san3.jpg
Khách tham quan trải nghiệm hệ thống thực tế ảo, hòa mình vào thế giới mới tại Di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, TP. Hà Nội. (Ảnh: Công Đạt).

Cùng đó, cần triển khai các nền tảng số dùng chung cho ngành văn hóa: từ quản lý biểu diễn, cấp phép, quản lý thiết chế, thống kê, đến giám sát bản quyền số, thư viện số, bảo tàng số và hệ thống học liệu văn hóa - di sản cho trường học. Việc này sẽ giảm phân mảnh dữ liệu giữa trung ương và địa phương, đồng thời tạo chuẩn kết nối cho khu vực tư nhân tham gia. Theo UNESCO, đo lường văn hóa đòi hỏi dữ liệu liên ngành và liên cấp; Nghị quyết số 80 đã mở đường cho hướng đi này; vấn đề còn lại là lựa chọn mô hình công nghệ và cơ chế phối hợp đủ hiệu quả để xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống, tránh tình trạng phân mảnh dữ liệu.

Bảo vệ bản quyền số và xây dựng chủ quyền văn hóa số

Đối với bản quyền số, PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy nhấn mạnh cần chuyển từ tư duy “chống vi phạm” sang tư duy “xây hệ sinh thái quyền”. Hệ sinh thái này bao gồm: cơ sở pháp lý rõ ràng về trách nhiệm của nền tảng trung gian; cơ chế thông báo - gỡ bỏ và xử lý tái vi phạm; hạ tầng công nghệ cho đăng ký, xác thực, theo dõi và truy vết quyền; mô hình cấp phép và thanh toán bản quyền thuận tiện; cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp nền tảng, đơn vị công nghệ và tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả.

Về tổ chức, cần nâng cao năng lực cho đội ngũ thực thi ở địa phương, kết nối cơ quan quản lý, doanh nghiệp nền tảng, tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và đơn vị công nghệ. Khi chi phí tuân thủ thấp và chi phí vi phạm cao, thị trường sáng tạo mới phát triển bền vững. Trong bối cảnh AI ngày càng tham gia sâu vào sản xuất và phân phối nội dung, Việt Nam cần chủ động hoàn thiện hạ tầng hệ sinh thái quyền thay vì chạy theo xử lý từng vụ việc đơn lẻ.

Gắn phát triển văn hóa với du lịch, đô thị sáng tạo và thương hiệu quốc gia

PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy chia sẻ, để tạo hiệu ứng lan tỏa nhanh, cần lựa chọn một số “cụm liên kết”, “tổ hợp sáng tạo” mà ở đó văn hóa có thể chuyển hóa đồng thời thành giá trị xã hội, kinh tế và sức mạnh mềm. Cân nhắc phát triển các tổ hợp về văn hóa - du lịch - di sản - sự kiện. Cần lựa chọn các địa bàn trọng điểm để phát triển mô hình du lịch văn hóa chất lượng cao, sản phẩm ban đêm, tuyến di sản, festival nghệ thuật quốc tế, làng nghề - thiết kế - ẩm thực và các hình thức sáng tạo phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa.

Cụm thứ hai là văn hóa - đô thị sáng tạo - thương hiệu quốc gia. Với lợi thế về di sản, thị trường tiêu dùng, lực lượng sáng tạo và kết nối quốc tế, các đô thị lớn, trước hết là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cần được xem như đầu tàu của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

vanhoa24.jpg
Thủ đô Hà Nội - Thành phố Sáng tạo của UNESCO, là hình mẫu của cả nước về phát triển công nghiệp văn hóa.

Thực tiễn triển khai ở Hà Nội cho thấy cấp địa phương đã bắt đầu cụ thể hóa Nghị quyết số 80 bằng các chương trình hành động có chỉ tiêu, nhiệm vụ và định hướng phát triển hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và các trung tâm sáng tạo dẫn đầu. Tuy nhiên, để trở thành động lực thực sự, cần có chính sách rõ hơn về không gian sáng tạo, quỹ hỗ trợ, tích hợp văn hóa vào quy hoạch đô thị và khuyến khích doanh nghiệp sáng tạo. Khi các trung tâm lớn phát triển đủ mạnh, chúng sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa về mô hình, nhân lực, thị trường và thương hiệu.

Bảo đảm công bằng văn hóa và vai trò chủ thể của cộng đồng

Nghị quyết số 80 chỉ có thể thành công bền vững nếu nâng được chất lượng đời sống văn hóa hằng ngày của người dân, chứ không chỉ tạo ra các biểu tượng lớn ở cấp quốc gia. Vì vậy, cần lấy bình đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng văn hóa là một nguyên tắc tổ chức thực hiện. Điều này đòi hỏi ưu tiên thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thực chất; phát triển nội dung số chất lượng cho vùng sâu, vùng xa; mở rộng thư viện, bảo tàng, giáo dục di sản lưu động; tăng cơ hội tiếp cận văn hóa cho trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Đồng thời, phải coi cộng đồng là chủ thể, không chỉ là đối tượng thụ hưởng. Trong bảo tồn di sản, phát triển du lịch văn hóa, lễ hội, nghề thủ công và thực hành dân gian, cộng đồng cần được tham gia quyết định, được chia sẻ lợi ích, được hỗ trợ truyền dạy và bảo vệ quyền văn hóa. Đây là cách để bảo đảm phát huy giá trị văn hóa mà không làm mất chiều sâu và chiều kích “sống” của di sản. Nếu thiếu đi những chiều kích này, nhiều chương trình “phát huy giá trị” sẽ chỉ tạo ra “lớp vỏ” hình thức mà không tạo nội lực văn hóa thật sự.

Thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá và trách nhiệm giải trình theo kết quả

Triển khai Nghị quyết số 80 cần được gắn với một bộ chỉ tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm, có thể đo lường hằng năm.

Bộ chỉ tiêu này nên bao gồm các nhóm: đầu tư công và ngoài công lập cho văn hóa; mức độ hoạt động thực chất của thiết chế văn hóa; số hóa và mức độ khai thác dữ liệu di sản; doanh thu, việc làm, xuất khẩu và thương hiệu trong công nghiệp văn hóa; chỉ số tiếp cận và tham gia văn hóa; mức độ hài lòng của người dân; hiệu quả bảo vệ bản quyền; số lượng sản phẩm, sự kiện, trung tâm văn hóa quốc tế, các chỉ báo liên quan đến sức mạnh mềm.

amnct.jpg
Chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tại Nhà Bát Giác (vườn hoa Lý Thái Tổ) thời gian qua đã mang đến cho công chúng không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, góp phần mở biên độ "sáng tạo" và phát triển văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới.

“Quan trọng hơn, các chỉ tiêu này phải gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì và địa phương, được cập nhật định kỳ và công bố ở mức phù hợp để tạo động lực cải thiện thực chất. Nói cách khác, cần có các chỉ số theo dõi tiến độ và cơ chế đánh giá việc triển khai Nghị quyết 80 có phản biện chuyên gia và dựa trên các chỉ báo phù hợp, tránh được nguy cơ “nhiều phong trào, ít chuyển biến” và đưa Nghị quyết vào cuộc sống một cách thực chất”, PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy, nhấn mạnh thêm./.

Hoa Quỳnh