Công nghiệp văn hóa

Cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

Quỳnh Phạm 12:19 09/05/2026

PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy (Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam), nhận định, chúng ta đang có nhiều cơ hội hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Trong đó, nổi bật là sự thống nhất về quyết tâm chính trị trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, dư địa phát triển của các công nghiệp văn hóa Việt Nam, tác động của chuyển đổi số và nhu cầu gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.

Sự hội tụ giữa quyết tâm chính trị, định hướng thể chế hóa mạnh mẽ

Theo PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy, cơ hội đầu tiên và quan trọng nhất là mức độ đồng thuận chính trị cao đối với yêu cầu phát triển văn hóa trong giai đoạn mới.

pgsthuy.jpg
PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy, Viện Văn hóa - Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam.

Không chỉ Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành ở cấp Bộ Chính trị, mà ngay sau đó Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết này (Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026); đồng thời Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện, nhấn mạnh đây là một Nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam cho thấy triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW không được nhìn như một nhiệm vụ riêng của ngành Văn hóa, mà là một nội dung chiến lược liên ngành, liên cấp và có cơ chế điều phối ở cấp cao. Trong thực tiễn chính sách, đây là điều kiện thuận lợi hiếm có, bởi Nghị quyết ra đời được kèm theo cơ chế chỉ đạo và theo dõi tập trung, mạnh mẽ và nhất quán.

Đồng thời, Nghị quyết số 80-NQ/TW xuất hiện đúng vào thời điểm các nghị quyết khác của Đảng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, pháp luật, hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân, giáo dục - đào tạo, y tế và phát triển kinh tế nhà nước đã được ban hành hoặc đang triển khai. Điều đó mở ra khả năng tạo ra một “hệ sinh thái chính sách” hỗ trợ lẫn nhau: văn hóa có thể được tiếp thêm động lực từ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; công nghiệp văn hóa có thể tận dụng những sức mạnh mới từ những chính sách ưu đãi, khuyến khích đối với khu vực tư nhân; đào tạo nhân lực văn hóa có thể gắn với các đột phá về giáo dục

Và thể chế, chính sách cho sự phát triển văn hóa có thể được củng cố, hoàn thiện với tốc độ nhanh hơn trong công cuộc đổi mới, kiện toàn hệ thống pháp luật. Nói cách khác, đây là giai đoạn mà chính sách văn hóa có cơ hội thoát khỏi tình trạng đơn tuyến, để được trở thành một chính sách “liên thông”, tích hợp cao trong cấu trúc phát triển quốc gia.

Cơ hội từ yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng

Quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam đang tạo ra một cơ hội chiến lược thuận lợi cho việc hiện thực hóa Nghị quyết số 80. Trong giai đoạn mới, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công, mà phải dựa nhiều hơn vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, nâng cao năng suất và phát huy nguồn lực nội sinh.

Trong cấu trúc đó, văn hóa không chỉ góp phần củng cố nền tảng tinh thần và niềm tin xã hội, mà còn nuôi dưỡng sáng tạo, hình thành thị trường tiêu dùng mới, tạo thương hiệu quốc gia và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng.

Nghị quyết số 80 đã phản ánh rất rõ nhận thức, quan điểm này khi nhấn mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, kinh tế sáng tạo gắn với du lịch văn hóa và xây dựng thương hiệu quốc gia. Chuyên đề quán triệt Nghị quyết được trình bày tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW (ngày 25/2/2026) cũng nêu bật đây là bước phát triển từ tư duy mới, thể hiện yêu cầu thay đổi cả chất lượng và vị thế của văn hóa trong tổng thể phát triển quốc gia.

cnvh2.jpeg
Nghị quyết số 80 đã phản ánh rất rõ nhận thức, quan điểm này khi nhấn mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, kinh tế sáng tạo gắn với du lịch văn hóa. (Ảnh tư liệu/Hoa Quỳnh).

“Nói cách khác, Nghị quyết số 80 có tính đồng nhịp với quỹ đạo phát triển chung của đất nước, chứ không phải là một văn kiện đứng tách biệt, đồng thời có tính khoa học - thực tiễn, không chỉ dừng lại ở định hướng chung mà còn chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa” - PGS.TS. Đỗ Thị Thanh Thủy, nhận định.

Cơ hội từ chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu mới

Cơ hội thứ ba là chuyển đổi số. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nhận thức rõ đây không chỉ là công cụ quản lý, mà là “không gian mới, xung lực mới” cho phát triển văn hóa. Nghị quyết đặt ra yêu cầu số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt; xây dựng bộ chỉ số văn hóa quốc gia, bộ chỉ số thống kê đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa; phát triển các mô hình kinh tế văn hóa mới, hạ tầng số và sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt dưới dạng tài sản số… Những định hướng này cho thấy chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ quản lý, mà là một hạ tầng phát triển mới của văn hóa.

van-mieuqtg.jpg
Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội) cung cấp thông tin QR các hạng mục di tích.

Ở cấp thực thi, Việt Nam đã bắt đầu cụ thể hóa hướng đi này bằng các nhiệm vụ về dữ liệu, truyền thông đa nền tảng, quảng bá số, phát triển không gian sáng tạo nội dung số, mở rộng hiện diện văn hóa Việt Nam trên truyền thông quốc tế. Nếu kết nối hiệu quả và phù hợp giữa dữ liệu văn hóa, di sản số, du lịch thông minh, truyền thông số và thị trường sáng tạo, Nghị quyết số 80 có khả năng tạo ra xung lực mới đáng kể cho quản trị và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam.

Từ góc độ rộng hơn, Việt Nam đang có điều kiện thuận lợi để số hóa nhanh hơn và xây dựng hệ thống dữ liệu so với các giai đoạn trước. Nếu Nghị quyết số 80 được gắn với hạ tầng số quốc gia và chiến lược dữ liệu, thực hiện ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa như một lĩnh vực đột phá thì đây sẽ là điều kiện then chốt để cải thiện việc hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách văn hóa dựa trên dữ liệu và bằng chứng, đồng thời tạo dựng những không gian mới, xung lực mới cho sự phát triển văn hóa.

Cơ hội từ du lịch văn hóa, di sản và sức mạnh mềm quốc gia

Du lịch văn hóa, di sản văn hóa đang trở thành một phần ngày càng quan trọng trong cơ cấu sản phẩm và sức hấp dẫn của điểm đến Việt Nam. Kết quả du lịch năm 2025 cho thấy quy mô thị trường đã đủ lớn để văn hóa có thể trở thành một nguồn tạo giá trị kinh tế rõ rệt. Chiến dịch truyền thông số du lịch quốc gia, các sản phẩm du lịch đa dạng và chính sách visa linh hoạt đang tạo ra nền tảng để văn hóa được chuyển hóa thành trải nghiệm và giá trị tiêu dùng.

Đây là một hướng đi quan trọng nhằm đưa văn hóa tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế - xã hội, không chỉ phụ thuộc vào cơ chế hỗ trợ từ ngân sách nhà nước mà còn từng bước vận hành trong chu trình tạo ra giá trị và tái tạo nguồn lực một cách bền vững.

ftival2.jpeg
Dự kiến vào tháng 9/2026, Thủ đô Hà Nội sẽ tổ chức Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II với chủ đề “Dòng chảy di sản – Heritage Flow”.

Nghị quyết số 80 cũng đặt mục tiêu hình thành các thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, xây dựng các liên hoan nghệ thuật và lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế, thành lập thêm các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Nghị quyết không chỉ đặt mục tiêu phát triển văn hóa trong nước mà còn nhấn mạnh việc gắn kết văn hóa với hoạt động đối ngoại, quảng bá hình ảnh quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gia tăng.

Định hướng này phù hợp với yêu cầu thực tiễn, bởi sức mạnh mềm văn hóa có thể trở thành nguồn lực quan trọng giúp Việt Nam gia tăng sức hấp dẫn đối với du lịch, đầu tư, thương mại và hợp tác quốc tế, đồng thời củng cố năng lực thích ứng và bảo vệ lợi ích quốc gia trước những cạnh tranh ngày càng phức tạp về giá trị, hình ảnh và ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu. Khi các yếu tố này được liên kết trong một chuỗi giá trị đồng bộ, văn hóa không chỉ góp phần khẳng định và lan tỏa bản sắc dân tộc mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế, việc làm và sức ảnh hưởng quốc tế một cách bền vững.

Cơ hội từ khu vực tư nhân và xã hội hóa đúng hướng

Một thay đổi tích cực khác là sự nổi lên của khu vực tư nhân trong các ngành công nghiệp văn hóa. Thực tiễn cho thấy sự tham gia ngày càng nhiều hơn của doanh nghiệp trong nhiều ngành như: du lịch văn hóa, thiết kế sáng tạo, thời trang, trò chơi điện tử, truyền thông số, tổ chức lễ hội, sự kiện đương đại… và điều này là một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển. Sức sáng tạo, tốc độ thích ứng, năng lực thị trường và khả năng chấp nhận rủi ro của khu vực tư nhân là điều kiện thiết yếu để văn hóa có thể huy động nguồn lực đa dạng, phát triển mạnh mẽ hơn.

PGS.TS. Đỗ Thị Thanh Thủy cho rằng, Nghị quyết số 80 nhấn mạnh nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt trong khi nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng. Sự nổi lên của khu vực tư nhân trong các lĩnh vực văn hóa/sáng tạo là một thay đổi tích cực cần được nhìn nhận như một cơ hội chiến lược. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ có thể chuyển hóa thành kết quả khi được dẫn dắt bằng quan điểm xã hội hóa đúng hướng.

vanhoa2.jpg
Thí sinh đến từ Ấn Độ dự cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2023 đang tìm hiểu về tạo hình con rối của Việt Nam tại điểm du lịch Quốc tế Tuần Châu Hà Nội. (Ảnh tư liệu/Hoa Quỳnh).

“Nhà nước không thể rút khỏi trách nhiệm đầu tư cho những cấu phần nền tảng, mà cần giữ vững vai trò kiến tạo thể chế, đảm bảo các trách nhiệm công ích, bảo vệ giá trị cốt lõi và tạo sân chơi bình đẳng, giải phóng sức sáng tạo cho mọi chủ thể trong xã hội đóng góp vào văn hóa. Đồng thời, xã hội hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa vô điều kiện, mà phải đi cùng với chuẩn mực, trách nhiệm xã hội và cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa” - PGS.TS Đỗ Thị Thanh Thủy, nhấn mạnh./.

Quỳnh Phạm