Đời sống văn hóa

Tư duy kinh tế trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam

Quỳnh Phạm 20:01 04/05/2026

“Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã thể hiện rõ tư duy kinh tế đối với phát triển văn hóa: đó là việc áp dụng các quy luật, nguyên tắc kinh tế để tối ưu hóa và tăng cường nguồn lực cho văn hóa, giúp văn hóa không còn phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách Nhà nước mà có thể tạo ra giá trị góp phần phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước” - PGS.TS Nguyễn Thành Nam, Trưởng khoa Xuất bản - Phát hành, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội chia sẻ.

PGS.TS Nguyễn Thành Nam cho biết thêm, trong bối cảnh thế giới hiện nay có nhiều biến động phức tạp, phát triển văn hóa đã trở thành chiến lược của nhiều quốc gia. Văn hóa Việt Nam cũng có những vận động để phù hợp với bối cảnh mới. Các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa… ngày càng chiếm tỉ trọng cao trong GDP. Chuyển đổi số cũng đang được triển khai ở nhiều lĩnh vực của đất nước, trong đó có nội dung chuyển đổi số về văn hóa.

pgsntn.jpg
PGS.TS Nguyễn Thành Nam, Trưởng khoa Xuất bản - Phát hành, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình phát triển của đất nước, khi Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc với những mục tiêu lớn về phát triển nhanh và bền vững, hướng tới tầm nhìn đến năm 2045. Dựa trên bối cảnh hiện tại, Nghị quyết số 80 đã đưa ra những mục tiêu kinh tế mang tính bứt phá hơn khi coi văn hóa là tài sản có thể sinh lời.

Chính phủ đặt kỳ vọng cao hơn về sự đóng góp của văn hóa cho sự phát triển kinh tế quốc gia do sự bùng nổ của công nghệ số, cụ thể mục tiêu phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo đóng góp 9% GDP vào năm 2045. Văn hóa không chỉ tiêu dùng nội địa mà phải trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực: đặt mục tiêu đưa giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa của Việt Nam nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về chỉ số sức mạnh mềm.

Theo PGS.TS Nguyễn Thành Nam, phát triển kinh tế thông qua công nghiệp văn hóa không chỉ là một lựa chọn xu hướng, mà là một chiến lược phát triển đột phá trong kỷ nguyên kinh tế tri thức. Khi các nguồn lực vật chất dần cạn kiệt hoặc bão hòa, văn hóa trở thành nguồn lực quan trọng. Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ góp phần tái cơ cấu mô hình tăng trưởng, tạo ra giá trị gia tăng, đóng góp vào GDP, thúc đẩy các mô hình kinh doanh, các cơ hội thương mại mới.

Các lĩnh vực trọng tâm của công nghiệp văn hóa được xác định là điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, thủ công mỹ nghệ... Hệ sinh thái văn hóa, các cụm, khu công nghiệp sáng tạo và trung tâm văn hóa tầm cỡ quốc tế cũng cần được xây dựng dựa trên nền tảng công nghệ cao. Các trung tâm công nghiệp văn hóa tập trung cũng cần được thiết lập để tối ưu hóa chuỗi cung ứng từ khâu sáng tạo đến phân phối sản phẩm. Trong bối cảnh hiện nay, thị trường công nghiệp văn hóa cũng cần được kiến tạo minh bạch, cạnh tranh, xây dựng và vận hành các sàn giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tài sản số.

tranhdongho.jpg
Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Oanh giới thiệu, quảng bá nghề làm tranh dân gian Đông Hồ (tỉnh Bác Ninh) với du khách quốc tế tại Hàn Quốc. (Ảnh tư liệu).

Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Thành Nam nhận định, khi du lịch văn hóa được xác định là một ngành công nghiệp văn hóa, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa là một nội dung quan trọng: sản phẩm du lịch văn hóa phải mang đậm bản sắc, giàu trải nghiệm, biến di sản thành tài sản để phát triển kinh tế bền vững. Để phát triển một sản phẩm du lịch văn hóa thực sự “có hồn”, mang đậm bản sắc và có khả năng cạnh tranh cao, các sản phẩm này cần đi từ giá trị cốt lõi đến trải nghiệm khách hàng.

“Trong thực tế, không phải mọi yếu tố văn hóa đều có thể làm du lịch, cần chọn lọc những gì đặc sắc và và mang tính độc đáo. Trong du lịch, cần biến những tư liệu khô khan thành những câu chuyện có cảm xúc. Từ chỗ nhấn mạnh nhiệm vụ bảo tồn các di sản văn hóa, Đảng từng bước khẳng định vai trò của di sản như một nguồn lực nội sinh quan trọng của phát triển “lấy di sản văn hóa là trung tâm”, đồng thời mở rộng tư duy theo hướng khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của di sản gắn với phát triển du lịch hình thành mô hình di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” - PGS.TS. Nguyễn Thành Nam nhấn mạnh thêm.

Cần đưa nội dung Kinh tế văn hóa vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo đại học của ngành

Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc cụ thể hóa mô hình kinh tế văn hóa và tư duy kinh tế trong văn hóa tại Việt Nam. So với Nghị quyết 33-NQ/TW (năm 2014) tập trung chủ yếu vào xây dựng con người và môi trường văn hóa, Nghị quyết số 80 mang đến một tư duy kinh tế sắc bén và thực tiễn. Các nghị quyết trước chủ yếu nhìn nhận văn hóa là “nền tảng tinh thần”, là mục tiêu của sự phát triển, đầu tư cho văn hóa thường được coi là đầu tư công ích, thì đến Nghị quyết 80-NQ/TW, tư duy mới khẳng định văn hóa không phải tạo ra GDP, tạo ra lợi nhuận và xuất khẩu.

Vấn đề công nghiệp văn hóa trong Nghị quyết số 33-NQ/TW mới chỉ được nhắc đến lần đầu thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chỉ ra rằng phát triển công nghiệp văn hóa là chiến lược phát triển đột phá trong kỷ nguyên kinh tế tri thức. Đặc biệt, Nghị quyết số 80 đưa ra chủ trương về thực thi phát triển văn hóa, đó là khuyến khích mạnh mẽ mô hình “đầu tư công - quản trị tư”. Nhà nước chỉ giữ vai trò định hướng và tạo cơ chế, còn nguồn lực tài chính và sự sáng tạo được huy động tối đa từ khu vực tư nhân và các tập đoàn đa quốc gia.

cnvh.jpg
Nghị quyết số 80 đã chỉ ra phát triển công nghiệp văn hóa là chiến lược phát triển đột phá trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.

Để đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam, công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành văn hóa không còn bó hẹp trong việc truyền thụ kiến thức chuyên môn nghiệp vụ văn hóa đơn thuần. Thay vào đó, trọng tâm dịch chuyển sang đào tạo nguồn nhân lực văn hóa thế hệ mới, đó là đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên viên, nhà sáng tạo, nhà thiết kế… có sự am hiểu bản sắc văn hóa và thành thạo công nghệ; có tư duy kinh tế - quản trị.

Nghị quyết số 80 nhấn mạnh vào tính liên ngành. Để có nguồn nhân lực văn hóa theo định hướng này, các chương trình đào tạo của ngành Văn hóa cần quan tâm đến 3 khối kiến thức: văn hóa Việt Nam (văn hóa dân gian, di sản văn hóa và các giá trị tinh thần cốt lõi của dân tộc…); năng lực số (thành thạo các công cụ AI, Big Data, Blockchain để ứng dụng vào sáng tạo, sản xuất và phân phối văn hóa); tư duy kinh tế (kỹ năng quản trị dự án, định giá tài sản văn hóa, truyền thông marketing…). Các chương trình đào tạo tại các bậc đại học hiện nay cần xây dựng, cập nhật, hoặc mở thêm các chuyên ngành mới: Quản trị kinh tế sáng tạo, Thiết kế trải nghiệm di sản, Luật sở hữu trí tuệ số, Truyền thông đa phương tiện văn hóa…

Đối với đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa hiện nay ở các địa phương, cần tập huấn các nội dung như vận hành các thiết chế văn hóa số, quản lý các hoạt động văn hóa trên nền tảng mạng xã hội, kỹ năng đàm phán và huy động vốn, ứng phó với khủng hoảng truyền thông, xử lý các vấn đề văn hóa trong môi trường số…Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa không chỉ là cán bộ nhà nước hay nghệ sĩ, mà là cả cộng đồng địa phương tại các điểm di sản, do đó cần đào tạo kỹ năng du lịch trải nghiệm, biết sử dụng các ứng dụng công nghệ để quảng bá văn hóa bản địa.

taphuan23.jpg
PGS.TS. Nguyễn Thành Nam tại lớp tập huấn, truyền dạy thực hành, trình diễn múa rối, múa tán đàn, ca múa tiên và bảo tồn y dược học cổ truyền tại Làng văn hóa du lịch cộng đồng Quỳnh Sơn, xã Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. (tháng 10/2025).

“Với trọng tâm là biến văn hóa thành động lực kinh tế trực tiếp và khai thác sức mạnh số, nội dung Kinh tế văn hóa cần đưa vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo đại học ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Môn học này cũng cần bổ sung, cập nhật những nội dung như kinh tế văn hóa số và công nghiệp sáng tạo 4.0; sự hình thành các tập đoàn, doanh nghiệp văn hóa; chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa; khởi sự kinh doanh gắn với nguồn lực văn hóa” - PGS.TS. Nguyễn Thành Nam, chia sẻ./.

Quỳnh Phạm