Góp phần định hình tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam
PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đánh giá, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết của Quốc hội, ngày 24/4/2026) là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết của Quốc hội góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam.
Bước đột phá, giá trị chính sách đối với phát triển văn hóa Việt Nam
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, phạm vi điều chỉnh Nghị quyết của Quốc hội tập trung vào các nhóm vấn đề trọng tâm: thu hút nguồn lực đầu tư cho văn hóa; ưu đãi đầu tư, tài trợ, hoạt động trong lĩnh vực văn hóa; khai thác, vận hành, phát huy hiệu quả thiết chế văn hóa, thể thao; bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng văn hóa, thể thao; và quy định Ngày Văn hóa Việt Nam.

“Đây đều là những điểm nghẽn mang tính hệ thống, không chỉ phản ánh hạn chế của cơ chế quản lý hiện hành, mà còn cho thấy yêu cầu cấp thiết phải hình thành một mô hình phát triển văn hóa mới, phù hợp với yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và cạnh tranh sức mạnh mềm giữa các quốc gia” - PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nhấn mạnh.
Từ góc nhìn khoa học chính sách, có thể thấy vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là tăng thêm đầu tư cho văn hóa, mà là đầu tư bằng cơ chế nào; không chỉ là có khuyến khích xã hội hóa hay không, mà là khuyến khích bằng công cụ pháp lý nào; không chỉ là có nói đến trọng dụng nhân tài văn hóa hay không, mà là có xây dựng được một hệ thống chính sách đủ sức thu hút, đào tạo, đãi ngộ và phát huy tài năng hay không.
Vì vậy, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình hoàn thiện văn bản pháp luật, mà còn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với việc xác định quỹ đạo phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nghị quyết của Quốc hội có nhiều nội dung đột phá cốt lõi và giá trị chính sách đối với phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó có đột phá về: thu hút nguồn lực đầu tư cho văn hóa; ưu đãi đầu tư, tài trợ và hoạt động văn hóa; đột phá trong khai thác, vận hành thiết chế văn hóa; đột phá về bảo đảm nguồn lực tương xứng; đột phá về chính sách nhân tài văn hóa.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, lần đầu tiên Nghị quyết của Quốc hội đặt vấn đề nhân tài văn hóa ở tầm một cấu phần chính sách có hệ thống. Điều đó đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống thiếu lực lượng kế cận, nhiều nghệ sĩ tài năng đối mặt với thu nhập thấp, điều kiện nghề nghiệp khó khăn, còn các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật lại gặp nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, đội ngũ và khả năng hội nhập quốc tế. Đầu tư cho nhân tài văn hóa, vì vậy, không phải là một khoản chi mang tính phúc lợi, mà là đầu tư cho năng lực tái sinh của nền văn hóa dân tộc.
Khuyến nghị để thực thi hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa
PGS. TS Bùi Hoài Sơn cho biết, trước hết, cần sớm xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành theo tinh thần mở đường cho phát triển, không “co hẹp” nội dung đột phá của Nghị quyết trong quá trình cụ thể hóa. Với một nghị quyết có nhiều cơ chế đặc thù, khâu hướng dẫn là nơi quyết định rất lớn đến việc chính sách có thực sự đi vào cuộc sống hay không.

Đồng thời, cần thiết kế cơ chế phân tầng chính sách rõ hơn giữa các lĩnh vực văn hóa khác nhau. Không phải mọi hoạt động văn hóa đều có cùng khả năng thị trường hóa, cùng mức độ cần hỗ trợ hay cùng cơ chế khai thác. Vì vậy, để tránh dàn trải, cần có chiến lược ưu tiên theo nhóm lĩnh vực, theo mức độ công ích và theo tiềm năng phát triển.
Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội Bùi Hoài Sơn cũng cho rằng, cần đặc biệt chú trọng đến cơ chế bảo vệ giá trị công cộng trong quá trình mở rộng hợp tác công – tư (PPP). Bởi lẽ, PPP trong văn hóa là cần thiết, nhưng nếu không có nguyên tắc rõ ràng thì có thể dẫn tới thương mại hóa di sản hoặc thu hẹp khả năng tiếp cận của công chúng. Vì vậy, trong thiết kế thực thi, cần xác định rõ đâu là phần Nhà nước phải bảo đảm bằng nguồn lực công, đâu là phần có thể xã hội hóa, và đâu là giới hạn không được vượt qua khi khai thác tài sản công và di sản văn hóa.
Cuối cùng, cần gắn chính sách văn hóa với chính sách khoa học, công nghệ, giáo dục và đối ngoại. Nghị quyết đã bước đầu thể hiện tư duy này khi ưu tiên hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao cho văn hóa, thu hút chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt và tạo điều kiện để di sản, tác phẩm nghệ thuật tham gia các hoạt động quốc tế. Trong quá trình thực thi, cần tiếp tục coi văn hóa là một hệ sinh thái liên ngành, trong đó giáo dục thẩm mỹ, đào tạo nhân lực, công nghệ số, ngoại giao văn hóa và phát triển thị trường phải được kết nối chặt chẽ với nhau.
Nền tảng cho mô hình phát triển văn hóa mới của Việt Nam
“Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ý nghĩa ấy không chỉ nằm ở việc bổ sung một số ưu đãi hay tháo gỡ một số vướng mắc mang tính kỹ thuật, mà sâu xa hơn, ở chỗ Nghị quyết đang góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa: văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được chăm lo, mà là một trụ cột của phát triển bền vững; không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực tăng trưởng mới của đất nước” – PGS. TS Bùi Hoài Sơn, cho biết.

Có thể thấy, Nghị quyết của Quốc hội đã tập trung vào đúng những điểm nghẽn có tính hệ thống của văn hóa Việt Nam hiện nay: thiếu nguồn lực đầu tư, thiếu ưu đãi đủ mạnh cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, hiệu quả vận hành thiết chế văn hóa còn hạn chế, cơ chế tài chính cho văn hóa còn nặng về đầu vào, thiếu đột phá trong chuyển đổi số, đặt hàng sáng tạo và đặc biệt là chưa có hệ thống chính sách đủ mạnh để bảo vệ, đào tạo, thu hút và phát huy nhân tài văn hóa. Việc Nghị quyết của Quốc hội đồng thời tác động vào các nhóm vấn đề này cho thấy tư duy chính sách đã chuyển từ xử lý từng mắt xích đơn lẻ sang xử lý cấu trúc thể chế của toàn bộ hệ sinh thái văn hóa.
Tuy nhiên, triển vọng chính sách chỉ có thể trở thành hiện thực khi đi kèm với năng lực tổ chức thực hiện tương xứng. Một Nghị quyết tốt cần tiếp tục được bảo đảm bằng hệ thống hướng dẫn chi tiết, cơ chế phối hợp liên ngành, sự chủ động của địa phương, năng lực quản trị công trong điều kiện mở rộng PPP và xã hội hóa, cùng với cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả rõ ràng.
Chỉ khi những điều kiện đó được đáp ứng, các cơ chế đột phá mới có thể thực sự chuyển hóa thành chuyển biến trong đời sống văn hóa, trong chất lượng hoạt động của thiết chế, trong sự trưởng thành của đội ngũ nghệ sĩ, trong sự phong phú của sản phẩm văn hóa và trong vị thế của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Nói cách khác, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam không chỉ là phản ứng chính sách trước những bất cập hiện hữu, mà có thể trở thành nền tảng cho một mô hình phát triển văn hóa mới của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
PGS. TS Bùi Hoài Sơn khẳng định: “Đó là mô hình phát triển trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xã hội là chủ thể tham gia rộng rãi, nhân tài được đặt ở vị trí trung tâm, công nghệ trở thành công cụ lan tỏa, và văn hóa thực sự được nhìn nhận như một sức mạnh phát triển của quốc gia. Nghị quyết sẽ không chỉ tháo gỡ điểm nghẽn cho văn hóa hôm nay, mà còn mở ra không gian phát triển mới cho tương lai văn hóa Việt Nam”./.