Tác giả - tác phẩm

Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế

Thụy Phương 05:50 28/04/2026

Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.

untitled-3.jpg

Tác giả Cao Xuân Quế sinh năm 1937, nguyên là giáo viên dạy văn Trường THCS Đại Thắng, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Sau khi nghỉ hưu, vì nặng lòng với những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, ông dành nhiều thời gian sưu tầm tư liệu, gặp gỡ các nghệ nhân để tìm hiểu về nghề nặn tò he của làng Xuân La. Ban đầu, ông chỉ viết những bài báo ngắn gửi cho các tòa soạn hoặc tham gia các ấn phẩm của Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

Tác giả Cao Xuân Quế chia sẻ: “Năm 2008, khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Hội Văn nghệ dân gian Hà Tây về sinh hoạt chung tại Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội cũng là lúc tôi nhen nhóm ý tưởng làm cuốn sách này. Làng Xuân La thuộc xã Phượng Dực nằm kế bên xã tôi (xã Đại Thắng). Xuân La từ xưa đã nổi tiếng với nghề nặn chim cò, bây giờ nghề cũ của làng vẫn hiện diện, thậm chí xuất khẩu ra nước ngoài, nhưng nói về lịch sử của nghề xưa có lẽ ít người tường tận. Cuốn sách này ra đời từ niềm đau đáu ấy và là công trình mà tôi đã dày công suốt gần 20 năm qua”.

Để có được những trang viết này, theo lời tác giả, đó là cả một quá trình điền dã công phu và bền bỉ. Cho đến bây giờ, tác giả Cao Xuân Quế chẳng nhớ hết đã bao ngày tháng ông ròng rã đạp xe sang xã bên để gặp gỡ các bậc cao niên, nghệ nhân tìm hiểu tư liệu viết về nghề. “Khi tôi đặt vấn đề với lãnh đạo địa phương, mọi người đều hết sức ủng hộ. Các bậc cao niên, các nghệ nhân năm xưa cũng nhiệt tình cung cấp tư liệu. Mọi người coi tôi như người làng, chuyện nghề, chuyện người, chuyện xưa, chuyện nay, họ đều sẻ chia. Việc của tôi là chắp nối những tư liệu ấy một cách hệ thống. Nhưng viết sao cho chân thực, thuyết phục bạn đọc lại là một thách thức”, ông cho biết.

Cuốn sách được chia thành 3 phần: “Làng Xuân La”; “Nghề nặn tò he ở Xuân La”; “Một số nghệ nhân tò he tiêu biểu”, cùng phần Phụ lục giới thiệu một số bài thơ ca ngợi làng và nghề. Ngay từ phần đầu, tác giả đưa người đọc bước vào không gian văn hóa làng Xuân La qua việc giới thiệu vị trí địa lý, lịch sử hình thành và phát triển, cũng như đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Xuân La là một làng Việt cổ, nằm trong vùng đồng chiêm trũng của xứ Đoài xưa. Trước đây, người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước, mùa màng bấp bênh. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc sự cần cù, linh hoạt trong lao động, đồng thời thúc đẩy người dân tìm thêm nghề phụ ngoài nông nghiệp. Nghề nặn chim cò (sau mới gọi là tò he) ra đời từ bối cảnh đó, cách đây vài trăm năm.

Phần hai “Nghề nặn tò he ở Xuân La”, tác giả phác họa bức tranh toàn cảnh về nghề truyền thống, từ nguồn gốc, quá trình hình thành đến các công đoạn cụ thể như chuẩn bị nguyên liệu, làm bột, pha màu, kỹ thuật nặn. Theo tìm hiểu của tác giả, trước đây nghề nặn tò he được gọi là nặn chim cò. Xuất phát từ nhu cầu mưu sinh, khi nông nhàn, người dân làm thêm để có cái ăn, cái mặc. Từ những con giống đơn giản mang ra chợ, ra hội làng bán cho trẻ nhỏ, dần dần nghề trở thành sinh kế, nuôi sống nhiều gia đình qua các giai đoạn khó khăn.

Tác giả cũng dành dung lượng đáng kể để lý giải tên gọi “tò he”, đồng thời chỉ ra sự biến đổi của sản phẩm qua từng thời kỳ. Ban đầu, tò he chỉ là những con giống đơn giản. Về sau, hình thức ngày càng phong phú hơn với các nhân vật lịch sử, nhân vật truyện và những hình tượng gắn với đời sống hiện đại.

Lật giở từng trang sách, người đọc như được trở về với nghề cũ của làng xưa; hình dung rõ cách làm bột, kỹ thuật nặn tò he. Nghề này đòi hỏi sự khéo léo và quan sát tinh tế. Người nghệ nhân phải nặn nhanh vì bột không giữ được lâu nhưng vẫn phải đảm bảo hình dáng rõ ràng, cân đối. Từ những con vật quen thuộc đến các nhân vật trong truyện, tất cả đều được tạo hình trong thời gian ngắn. Người mua sản phẩm còn được chứng kiến quá trình nặn như một hình thức trình diễn dân gian.

Cuốn sách cũng đề cập đến vai trò của nghề truyền thống trong đời sống của người dân Xuân La qua các thời kỳ. Từ một nghề phụ ra đời trong lúc nông nhàn, nặn tò he dần trở thành nguồn thu nhập quan trọng, góp phần cải thiện đời sống cho nhiều gia đình. Qua từng giai đoạn lịch sử, nghề có lúc thịnh, lúc suy, nhưng nhờ sự linh hoạt của người làm nghề, tò he không bị mai một mà từng bước thích nghi với thị hiếu đương đại. Không chỉ mang giá trị kinh tế, nghề tò he còn là một phần của đời sống văn hóa, gắn với ký ức tuổi thơ, với các phiên chợ, hội làng và trở thành dấu ấn riêng của Xuân La.

Đáng chú ý, tác giả cũng dành dung lượng đáng kể để viết về các nghệ nhân, những bàn tay tài hoa làm nên hồn cốt của làng nghề qua nhiều giai đoạn. Tiêu biểu như nghệ nhân Đặng Văn Tố, Nguyễn Văn Thuận, Đặng Văn Tẫn - những người đã có công đưa tò he Xuân La ra nước ngoài. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng nhắc tới nhiều nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu như Nghệ nhân Nhân dân Chu Tiến Công, Nguyễn Văn Thành; các Nghệ nhân Ưu tú Chu Văn Chiến, Đặng Văn Tiên, Đặng Văn Kha, Đặng Văn Khang, Đặng Đình Sự, Đặng Văn Biềng…. Chính họ là lực lượng nòng cốt giữ nghề, truyền nghề và đưa tò he Xuân La vượt ra khỏi không gian làng, hiện diện trong đời sống đương đại.

Trong cuốn sách còn có nhiều bức ảnh tư liệu quý do tác giả sưu tầm hoặc trực tiếp ghi lại, phản ánh sinh động lịch sử, văn hóa địa phương, chân dung các nghệ nhân và sản phẩm của làng nghề. Hệ thống hình ảnh này góp phần minh họa rõ nét cho nội dung, tăng sức gợi và sức thuyết phục, giúp cuốn sách trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.

Có thể nói“Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” là một công trình sưu tầm, khảo cứu công phu, góp phần hệ thống hóa tư liệu về một nghề truyền thống đặc sắc. Qua cuốn sách, người đọc có thể hiểu rõ hơn lịch sử, giá trị và sức sống của tò he Xuân La, từ đó thêm trân trọng những di sản văn hóa đang hiện hữu./.

Thụy Phương