Chính sách & Quản lý

Nghị quyết 80-NQ/TW: “Mở đường” cho công nghiệp văn hóa bứt phá

Đình Thế 09:16 19/04/2026

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã mở ra một chương mới, nơi nghệ thuật, giải trí và di sản không còn đứng ngoài dòng chảy kinh tế. Đây là lúc công nghiệp văn hóa vươn mình, khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng mũi nhọn, đưa bản sắc Việt Nam tỏa sáng trên bản đồ kinh tế toàn cầu.

tonkin7-1563503972659126907019.jpg
Vở diễn thực cảnh “Tinh hoa Bắc Bộ” được coi là sản phẩm văn hóa độc đáo.

Một trong những điểm đột phá của Nghị quyết số 80-NQ/TW là coi văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, có khả năng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong tinh thần đó, công nghiệp văn hóa được Nghị quyết xác định là con đường tất yếu để chuyển hóa các giá trị văn hóa, tài nguyên văn hóa và sức sáng tạo của con người Việt Nam thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế cao, đồng thời lan tỏa các giá trị nhân văn, bản sắc dân tộc.

Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh gay gắt về giá trị, công nghiệp văn hóa chính là “quyền lực mềm” để các quốc gia khẳng định ảnh hưởng và vị thế. Sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới, cùng với sự xâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa ngoại lai, đặt ra yêu cầu cấp bách phải phát triển công nghiệp văn hóa trong nước đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh, bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số.

Việt Nam không chỉ phát triển công nghiệp văn hóa để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ trong nước, mà còn hướng tới xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang, âm nhạc, mỹ thuật… Đây là những lĩnh vực có lợi thế, giàu bản sắc và khả năng hội nhập cao nếu được đầu tư bài bản, chuyên nghiệp.

Theo đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định công nghiệp văn hóa phải trở thành lực lượng tham gia phát triển kinh tế quốc gia, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang...; Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 - 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh…

Tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo được xác định là một trong những trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh; Phấn đấu nằm trong tốp 3 khu vực ASEAN và tốp 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa…

Những mục tiêu này cho thấy công nghiệp văn hóa không còn là khái niệm mang tính khẩu hiệu, mà đã được đặt trong chiến lược phát triển dài hạn của đất nước, gắn chặt với mục tiêu xây dựng quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Với Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, phát triển công nghiệp văn hóa được xác định là một chiến lược trọng tâm nhằm gia tăng sức cạnh tranh và tạo động lực cho phát triển bền vững. Trong tiến trình ấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam giữ vai trò định hướng quan trọng, tiếp thêm động lực để Hà Nội khẳng định vị thế là trung tâm công nghiệp văn hóa của khu vực và từng bước vươn tầm thế giới.

Theo Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, đến nay thành phố đã có hơn 200 không gian văn hóa sáng tạo. Từ vài mô hình nhỏ lẻ, Hà Nội đã xây dựng và duy trì hàng trăm địa điểm tiêu biểu là Complex 01, Heritage Space, VICAS Art Studio, Ơ Kìa Hà Nội...

Các không gian văn hóa cộng đồng kết hợp hoạt động thương mại được tổ chức thường xuyên, trở thành điểm đến sáng tạo hấp dẫn như phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận, phố đi bộ Trần Nhân Tông, phố bích họa Phùng Hưng. Ngoài ra, Hà Nội cũng khẳng định năng lực tổ chức các sự kiện văn hóa mang tầm vóc quốc tế, trở thành điểm đến được nhiều ngôi sao quốc tế lựa chọn như Blackpink, G-DRAGON, Westlife, Kenny G, DJ Snake...

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội nhận xét, Hà Nội có đầy đủ năng lực đăng cai các sự kiện lớn của quốc tế. Với việc hình thành các công trình văn hóa lớn, tầm vóc như Nhà hát Hồ Gươm, Trung tâm Triển lãm Việt Nam, tới đây còn có Nhà hát Ngọc Trai ở Hồ Tây..., Hà Nội có nhiều cơ hội trở thành điểm đến của những sự kiện văn hóa, giải trí mang tầm châu lục và thế giới.

Sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành, chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Hà Nội ghi nhận những chuyển biến rõ nét, đặc biệt trong đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản phẩm và hoạt động văn hóa. Công nghệ dần trở thành công cụ quan trọng, góp phần đổi mới phương thức bảo tồn, khai thác và quảng bá di sản, đồng thời nâng cao trải nghiệm của người dân và du khách.

Tại di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, bên cạnh tour đêm “Tinh hoa đạo học” ứng dụng công nghệ 3D mapping, công tác số hóa tư liệu được đẩy mạnh, hình thành không gian trải nghiệm số phục vụ công chúng. Cuối năm 2025, Khu di sản Hoàng thành Thăng Long ra mắt không gian trải nghiệm số với vở trình diễn công nghệ “Kinh đô Thăng Long”. Bảo tàng Hà Nội hoàn thành trưng bày cố định, mở rộng không gian số với các bộ phim 3D về lịch sử và tiến hành số hóa hàng vạn hiện vật, giúp công chúng dễ dàng tiếp cận.

Những chuyển động mạnh mẽ đó cho thấy, công nghiệp văn hóa tại Hà Nội không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản, mà đang từng bước định hình một hệ sinh thái sáng tạo hiện đại, nơi công nghệ, nghệ thuật và kinh tế hòa quyện. Đây chính là nền tảng để Thủ đô tiếp tục bứt phá, đóng góp tích cực vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế sáng tạo, đưa văn hóa Việt Nam vươn xa trong kỷ nguyên hội nhập và số hóa.

Đình Thế