Hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản lý để phát triển văn hóa Việt Nam
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ góc độ này, Thạc sỹ Vũ Minh Đạo, Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Xã hội thuộc Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội, kiến nghị lập pháp để đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng hiện đại, hiệu quả, phát huy vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh quan trọng trong phát triển quốc gia.
Theo ông Vũ Minh Đạo, thể chế văn hóa được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật, cơ chế chính sách, thiết chế tổ chức và các chuẩn mực xã hội được thiết lập nhằm điều chỉnh, định hướng và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, bảo tồn, truyền bá và hưởng thụ các giá trị văn hóa trong đời sống xã hội.
.jpg)
Thể chế văn hóa không chỉ bao gồm hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước mà còn bao hàm các thiết chế văn hóa, các cơ chế vận hành của thị trường văn hóa và sự tham gia của các chủ thể xã hội trong quá trình sáng tạo và phát triển văn hóa.
Trong quản trị hiện đại, thể chế văn hóa không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa mà còn đóng vai trò kiến tạo môi trường thuận lợi để khơi dậy tiềm năng sáng tạo của xã hội, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa và nâng cao khả năng tiếp cận, hưởng thụ văn hóa của người dân.
Hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế – xã hội, một hệ thống thể chế văn hóa hiện đại cần bảo đảm một số yêu cầu cơ bản. Trước hết, thể chế văn hóa phải có khả năng bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa cốt lõi của dân tộc, góp phần củng cố bản sắc văn hóa và hệ giá trị xã hội, qua đó tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển đất nước.
Đồng thời, hệ thống thể chế cần tạo dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo văn hóa, khuyến khích sự tham gia rộng rãi của các tổ chức xã hội, cộng đồng và khu vực tư nhân trong các hoạt động văn hóa. Bên cạnh đó, thể chế văn hóa cũng phải có tính linh hoạt và khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của môi trường công nghệ và quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của không gian văn hóa số và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới.
Thực tiễn thể chế, quản lý văn hóa ở Việt Nam
Thạc sỹ Vũ Minh Đạo đánh giá, trong những năm qua, hệ thống thể chế văn hóa ở nước ta đã từng bước được hoàn thiện thông qua việc ban hành và sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng như Luật Di sản văn hóa, Luật Điện ảnh, Luật Thư viện, Luật Quảng cáo và Luật Xuất bản. Những quy định pháp luật này đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực văn hóa.
Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, nhiều kết quả tích cực trong phát triển văn hóa đã được ghi nhận. Nhiều di sản văn hóa của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh, góp phần khẳng định giá trị văn hóa của dân tộc trên trường quốc tế. Hệ thống thiết chế văn hóa ở nhiều địa phương từng bước được củng cố, góp phần nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân. Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp văn hóa bước đầu hình thành và phát triển, tạo ra những giá trị kinh tế và xã hội ngày càng rõ nét.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, hệ thống thể chế và phương thức quản lý văn hóa ở nước ta vẫn còn bộc lộ một số hạn chế. Trước hết, hệ thống pháp luật về văn hóa chưa thực sự đồng bộ và trong một số lĩnh vực chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của đời sống văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. Bên cạnh đó, phương thức quản lý văn hóa ở nhiều lĩnh vực vẫn còn nặng về quản lý hành chính, chưa phát huy đầy đủ vai trò của xã hội và thị trường trong phát triển văn hóa.
Và, nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực văn hóa còn hạn chế so với yêu cầu phát triển, trong khi cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa chưa thực sự hiệu quả. Những hạn chế này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa trong giai đoạn tới.
Vai trò của Quốc hội trong hoàn thiện thể chế văn hóa
Trong hệ thống chính trị của nước ta, Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển đất nước, trong đó có thể chế văn hóa. Thông qua chức năng lập pháp, Quốc hội xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của các lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh mới. Đồng thời, Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với việc thực thi các chính sách và pháp luật về văn hóa, qua đó phát hiện những hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai và kiến nghị hoàn thiện thể chế.
Việc hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ là yêu cầu của lĩnh vực văn hóa mà còn là nhiệm vụ chiến lược của quá trình phát triển đất nước. Xây dựng một hệ thống thể chế văn hóa hiện đại, đồng bộ và hiệu quả sẽ góp phần tạo lập môi trường thuận lợi cho sự phát triển văn hóa, phát huy sức mạnh mềm quốc gia và thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong những thập niên tới.
Thạc sỹ Vũ Minh Đạo, Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Xã hội, Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội.
Bên cạnh đó, Quốc hội còn giữ vai trò quyết định các chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa thông qua việc quyết định ngân sách nhà nước và các chương trình đầu tư công. Phát huy đầy đủ vai trò của Quốc hội trong xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa sẽ góp phần quan trọng vào việc tạo dựng môi trường thể chế thuận lợi cho sự phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản lý để phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới
Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Xã hội, Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội Vũ Minh Đạo cho rằng, trên cơ sở yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc hoàn thiện thể chế văn hóa cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Trước hết, cần xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Bởi lẽ, trong bối cảnh văn hóa ngày càng gắn chặt với kinh tế sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia, việc phát triển công nghiệp văn hóa cần được đặt trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất và có tầm chiến lược. Do đó, cần nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm xác lập các cơ chế pháp lý đồng bộ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp sáng tạo.
Cùng đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa trong môi trường số. Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi phương thức sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm văn hóa. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, sửa đổi và bổ sung các đạo luật liên quan nhằm thiết lập khung pháp lý phù hợp với môi trường văn hóa số, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan trong không gian mạng.
Đồng thời, chúng ta phải đổi mới thể chế quản lý văn hóa theo hướng quản trị phát triển. Cần từng bước chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị phát triển văn hóa, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và điều tiết, đồng thời khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và doanh nghiệp trong các hoạt động văn hóa.
Chúng ta cũng cần hoàn thiện cơ chế tài chính cho phát triển văn hóa. Cần nghiên cứu xây dựng các cơ chế tài chính đặc thù cho lĩnh vực văn hóa, bao gồm việc thành lập các quỹ hỗ trợ sáng tạo văn hóa và quỹ phát triển công nghiệp văn hóa, đồng thời ban hành các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân.

Cuối cùng, theo ông Vũ Minh Đạo, cần tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội đối với chính sách phát triển văn hóa. “Quốc hội cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động giám sát chuyên đề đối với việc triển khai các chiến lược và chương trình phát triển văn hóa, đặc biệt là việc thực hiện các chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa” - Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Xã hội, Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội Vũ Minh Đạo nêu kiến nghị./.