Văn hóa – Di sản

“Chìa khóa” phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Trung Kiên 20:45 15/04/2026

PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên (Trưởng bộ môn Chính sách văn hóa và Quản lý nghệ thuật, Khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) nhấn mạnh, sự ra đời của Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định rõ vai trò của công nghiệp văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia, mở ra những cơ hội mới về thể chế và thị trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật là một trong những trụ cột quan trọng để đạt được những mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Nội dung này được PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên chia sẻ tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” diễn ra ngày 15/4 tại Hà Nội.

cn.jpg
PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên chia sẻ tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” do Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 15/4.

Phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam

Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên, phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay cần được đặt trong một cấu trúc bối cảnh đa tầng, nơi các yếu tố toàn cầu hóa, chuyển đổi số, cải cách thể chế kinh tế, đặc biệt là Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và định hướng chiến lược từ Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam cùng tạo nên động lực mới cho tăng trưởng.

Trong những năm qua, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, dần trở thành ngành kinh tế dịch vụ quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 2016 - 2018, 12 ngành công nghiệp văn hóa đã đóng góp doanh thu khoảng 8,081 tỷ USD (tương đương 3,61% GDP); năm 2021, đạt 3,92% GDP; năm 2022 tăng lên 4,04% GDP. Giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa trong giai đoạn 2018 - 2022 ước đạt 44 tỷ USD.

Tại nhiều địa phương, các ngành công nghiệp văn hóa cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ trong giai đoạn 2016 - 2022, nhất là ở những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh - những nơi được thiết kế để trở thành trung tâm công nghiệp văn hóa của cả nước ở tầm khu vực.

Sản phẩm công nghiệp văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu của công chúng trong nước và vươn ra thị trường quốc tế. Các bộ phim điện ảnh, như “Bố già”, “Mai” của Trấn Thành, series phim “Lật mặt” của Lý Hải, “Mưa đỏ” của Đặng Thái Huyền… không chỉ thành công ở thị trường nội địa với doanh thu hàng trăm tỷ mà còn được công chiếu ở một số quốc gia trên thế giới.

Một số bộ phim của Việt Nam đoạt giải tại các liên hoan phim quốc tế, như bộ phim “Bên trong vỏ kén vàng” của đạo diễn trẻ Phạm Thiên Ân đoạt giải Camera Vàng tại Liên hoan phim Cannes 2023 cho hạng mục Phim dài đầu tay xuất sắc nhất. Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đã có những chương trình, sản phẩm có quy mô, doanh thu lớn và tạo những đột phá mới trên thị trường trong nước như chương trình thực cảnh “Tinh hoa Bắc bộ”, chương trình ca nhạc “Anh trai say hi”, “Anh trai vượt ngàn chông gai”, “Bắc Bling”,…

bacblig.jpg
“Bắc Bling” của ca sỹ Hòa Minzy năm 2025 đã tạo đột phá trên thị trường âm nhạc Việt Nam.

Ngoài phát triển sản phẩm của các ngành công nghiệp văn hóa, việc hình thành và phát triển các không gian sáng tạo, sự tham gia vào mạng lưới thành phố sáng tạo của UNESCO cho thấy Việt Nam đang từng bước đa dạng hóa các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, bao gồm: thiết kế, thủ công - nghệ thuật dân gian, âm nhạc và điện ảnh. Điều này phản ánh xu hướng gắn phát triển đô thị với kinh tế sáng tạo, khai thác lợi thế văn hóa đặc thù của từng địa phương, tăng cường hội nhập quốc tế và xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia.

Hiện nay, Việt Nam đã có 4 thành phố chính thức tham gia Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO: Hà Nội, tham gia năm 2019, lĩnh vực thiết kế - là thành phố đầu tiên của Việt Nam gia nhập mạng lưới, đánh dấu bước khởi đầu trong việc phát triển mô hình “thành phố sáng tạo” gắn với công nghiệp văn hóa; Hội An, tham gia năm 2023, lĩnh vực thủ công và nghệ thuật dân gian; Đà Lạt, tham gia năm 2023, lĩnh vực âm nhạc; Thành phố Hồ Chí Minh, tham gia năm 2025, lĩnh vực điện ảnh.

"Chìa khóa" phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên nhấn mạnh, trong kỷ nguyên mới, khi toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh văn hóa ngày càng gia tăng, phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam không chỉ là một lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Tuy nhiên, quá trình này đang đặt ra nhiều vấn đề mang tính cấu trúc, đòi hỏi những điều chỉnh đồng bộ về nhận thức, thể chế và chính sách, đặc biệt trong bối cảnh triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW.

sang-tao.png

Trước hết, một trong những vấn đề nổi bật là nhận thức và tư duy phát triển chưa thực sự đồng bộ. Mặc dù công nghiệp văn hóa đã được xác định là trụ cột phát triển, song trên thực tế, ở nhiều cấp, nhiều ngành vẫn tồn tại cách tiếp cận truyền thống coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực sự nghiệp công. Điều này dẫn đến sự thiếu chủ động trong việc xây dựng cơ chế thị trường cho các sản phẩm và dịch vụ văn hóa, cũng như hạn chế trong việc huy động nguồn lực xã hội. Trong bối cảnh đó, cần tiếp tục đổi mới tư duy theo hướng coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, đặt trong logic của Kinh tế sáng tạo.

Bên cạnh đó, hệ thống thể chế và chính sách còn phân tán, thiếu tính liên ngành và chưa theo kịp thực tiễn. Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực giao thoa giữa văn hóa, kinh tế và công nghệ, nhưng khung pháp lý hiện nay vẫn được xây dựng theo từng ngành riêng lẻ, thiếu một cách tiếp cận tổng thể. Các quy định về đầu tư, thuế, bản quyền, chuyển đổi số, dữ liệu… chưa thực sự tạo động lực cho sáng tạo và kinh doanh văn hóa. Do đó, cần xây dựng một hệ thống chính sách tích hợp, đồng bộ, có khả năng thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ và thị trường.

Đồng thời, thị trường công nghiệp văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Mặc dù đã xuất hiện nhiều sản phẩm văn hóa thành công, song nhìn chung thị trường còn manh mún, thiếu các thiết chế trung gian và chưa hình thành đầy đủ chuỗi giá trị từ sáng tạo đến phân phối và tiêu dùng. Đặc biệt, cơ chế định giá tài sản văn hóa và khai thác thương mại còn hạn chế, khiến nhiều giá trị văn hóa chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Điều này đặt ra yêu cầu phải phát triển đồng bộ thị trường văn hóa, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm.

Cùng với đó, nguồn nhân lực sáng tạo còn thiếu và chưa đáp ứng yêu cầu của thời đại số. Công nghiệp văn hóa đòi hỏi nguồn nhân lực có khả năng kết hợp giữa tư duy nghệ thuật, kỹ năng công nghệ và năng lực kinh doanh. Tuy nhiên, hệ thống đào tạo hiện nay còn nặng về chuyên môn đơn ngành, thiếu tính liên ngành và chưa gắn kết chặt chẽ với thị trường. Vì vậy, cần đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo trong lĩnh vực văn hóa, hướng tới phát triển nguồn nhân lực sáng tạo có khả năng hội nhập quốc tế.

PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên cũng cho rằng, chuyển đổi số vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn. Công nghệ số mở ra không gian sáng tạo mới, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng các vấn đề như vi phạm bản quyền, cạnh tranh không bình đẳng và phụ thuộc vào nền tảng nước ngoài. Nếu không có chiến lược phù hợp, Việt Nam có thể trở thành “người tiêu dùng nội dung” thay vì “nhà sản xuất nội dung”. Do đó, cần có chính sách phát triển hạ tầng số, nền tảng số nội địa và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số.

phucdung.jpg
Phục dựng kiến trúc bằng công nghệ 3D của Viện Nghiên cứu Kinh thành - nay là Viện Khảo cổ học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.

Cuối cùng là khả năng hội nhập và cạnh tranh quốc tế còn hạn chế. Mặc dù đã có một số sản phẩm văn hóa đạt thành công quốc tế, nhưng nhìn chung công nghiệp văn hóa Việt Nam vẫn chưa có nhiều thương hiệu mạnh, chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc xây dựng chiến lược quốc gia về xuất khẩu văn hóa, gắn với nâng cao Quyền lực mềm, là một yêu cầu cấp thiết.

Từ những vấn đề trên, nhằm phát triển có hiệu quả các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam, từ góc độ chính sách, PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên cho rằng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp. Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, liên ngành, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo và phát triển kinh tế sáng tạo. Thứ hai, phát triển thị trường công nghiệp văn hóa hiện đại, minh bạch, trong đó khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân tham gia, phù hợp với tinh thần của các nghị quyết về phát triển kinh tế.

Thứ ba, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào nguồn nhân lực sáng tạo và hạ tầng công nghệ, coi đây là nền tảng của công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số. “Bên cạnh đó phải xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu văn hóa quốc gia, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm văn hóa và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, và cuối cùng là tăng cường năng lực quản trị nhà nước theo hướng kiến tạo, linh hoạt và thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của môi trường toàn cầu” - PGS.TS. Nguyễn Thị Anh Quyên, chia sẻ./.

Trung Kiên