Bước chuyển chiến lược để Hà Nội thành đô thị sáng tạo toàn cầu
Hà Nội với bề dày ngàn năm văn hiến, sở hữu “kho báu” di sản văn hóa mà hiếm đô thị nào trên thế giới có được. Song một thời gian dài, văn hóa chủ yếu được nhìn nhận mang tính tinh thần nhiều hơn là một ngành kinh tế mới. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới” đã đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí “mũi nhọn”, biến di sản thành tài sản, đánh thức tiềm năng thành động lực tăng trưởng bứt phá của Hà Nội.
Nghị quyết số 02-NQ/TW đã mang đến những ưu thế vượt trội, tạo ra một bệ phóng cho công nghiệp văn hóa Thủ đô vươn mình. Bởi điểm yếu cố hữu trong phát triển văn hóa trước đây là thiếu các thước đo kinh tế cụ thể, dẫn đến việc đầu tư cho văn hóa còn chưa hiệu quả. Nghị quyết số 02 đã xóa bỏ hoàn toàn tư duy cũ bằng việc giao chỉ tiêu rõ ràng cho Hà Nội: tỉ trọng công nghiệp văn hóa phải đạt khoảng 9% GRDP vào năm 2030 và từ 10% trở lên vào năm 2035.

Việc ấn định con số từ 10% trở lên là một thông điệp mạnh mẽ của Trung ương đối với Hà Nội. Con số này buộc toàn bộ hệ thống chính trị Thành phố phải thay đổi nhận thức: văn hóa không chỉ là cờ hoa, lễ hội, mà là một ngành kinh tế thực thụ, cạnh tranh trực tiếp và đóng góp ngang ngửa, thậm chí vượt trội so với nhiều ngành công nghiệp truyền thống. Chỉ tiêu này chính là “mệnh lệnh” để dòng vốn đầu tư công và sự ưu tiên chính sách buộc phải chảy vào lĩnh vực sáng tạo của Thủ đô Hà Nội.
Không khó để nhận thấy, đặc thù của công nghiệp văn hóa (điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, game, thiết kế...) là sự đổi mới không ngừng và luôn đi trước các quy định pháp luật. Nếu áp dụng một khung pháp lý cứng nhắc, sự sáng tạo sẽ bị bóp nghẹt. Do đó, tính vượt trội, đặc thù của Nghị quyết số 02 là đã trao cho Hà Nội cơ chế “thử nghiệm có kiểm soát” (Sandbox) và quyền phân cấp, phân quyền triệt để.
Điều này có nghĩa, Hà Nội được phép cho ra đời những mô hình kinh doanh văn hóa mới như các tổ hợp giải trí đêm quy mô lớn, các sàn giao dịch bản quyền số, các khu phi thuế quan dành riêng cho thiết bị nghệ thuật… mà không cần chờ đợi sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia. Thể chế vượt trội này chính là “cú hích” để Hà Nội cạnh tranh thu hút giới tinh hoa sáng tạo trong nước, toàn cầu và các tập đoàn giải trí đa quốc gia.

Để công nghiệp văn hóa cất cánh, không thể thiếu các hạ tầng biểu diễn, triển lãm đẳng cấp quốc tế. Tư duy quy hoạch “động và mở”, kết hợp với việc khai thác “không gian ngầm, không gian tầm thấp” theo Nghị quyết số 02 đã giải quyết triệt để bài toán thiếu quỹ đất của khu vực trung tâm.
Việc định hướng xây dựng các khu thương mại tự do (FTZ), trung tâm tài chính và các đô thị nén (TOD) sẽ tạo ra những quần thể kiến trúc hiện đại, trở thành điểm đến lý tưởng cho các show diễn toàn cầu, các liên hoan phim quốc tế, các tuần lễ thời trang danh giá và đẳng cấp thế giới. Điều này có ý nghĩa lớn và sẽ lan tỏa hình ảnh về Thủ đô Hà Nội - Thành phố Vì hòa bình đến với bạn bè quốc tế, thực sự đưa công nghiệp văn hóa của Thành phố thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên phát triển mới.
Làm gì để Hà Nội thành đô thị sáng tạo toàn cầu?
Tuy đã có “ánh sáng soi đường” của Nghị quyết số 02-NQ/TW, nhưng để đạt các mục tiêu trên, Hà Nội cần một hệ thống giải pháp thực thi đồng bộ, quyết liệt và mang tính đột phá. Trong đó, Hà Nội cần phải cụ thể hóa cơ chế sandbox để thu hút nguồn lực tư nhân thông qua hợp tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa. Hà Nội đang sở hữu hàng vạn di tích, hàng trăm nhà máy, cơ sở công nghiệp cũ.

Trên cơ sở đó, Thành phố Hà Nội cần bắt tay ngay vào việc sử dụng đặc thù từ Nghị quyết số 02 để ban hành các quy chế vượt trội, cho phép tư nhân tham gia đầu tư, khai thác thương mại các không gian di sản này. Cần biến các nhà máy cũ thành các tổ hợp sáng tạo, nơi hội tụ của các nhà khởi nghiệp sáng tạo nghệ thuật. Nhà nước chỉ nắm giữ quyền sở hữu, còn quyền vận hành và sáng tạo nội dung phải giao cho những người làm văn hóa chuyên nghiệp, thì công nghiệp văn hóa Thủ đô mới có thể “cất cánh”.
Đồng thời, Hà Nội cũng cần có cái “bắt tay” chiến lược giữa công nghiệp văn hóa và kinh tế số. Bởi lẽ, Nghị quyết số 02 đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 50% GRDP vào năm 2035. Công nghiệp văn hóa của Hà Nội phải hòa cùng dòng chảy này để bứt phá. Trong đó, Thành phố Hà Nội cần ưu tiên nguồn lực để số hóa toàn bộ kho tàng di sản; ứng dụng các công nghệ của tương lai như trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) để tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa của kỷ nguyên số; xây dựng các nền tảng thương mại điện tử chuyên biệt để xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, điện ảnh, âm nhạc ra toàn cầu.

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô Hà Nội theo mục tiêu Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị đặt ra, Hà Nội cũng phải nâng cao tư duy của đội ngũ quản lý văn hóa bằng cơ chế “bảo vệ người dám nghĩ dám làm”. Bởi, rào cản lớn nhất của công nghiệp sáng tạo đôi khi lại đến từ tư duy quản lý thận trọng quá mức, sợ sai, sợ trách nhiệm của cán bộ thực thi. Muốn văn hóa phát triển thì người quản lý cũng phải mang tư duy của một nhà đầu tư và nhà sáng tạo.
Thành phố Hà Nội cần vận dụng triệt để cơ chế “miễn trừ trách nhiệm pháp lý” đã được Trung ương “bật đèn xanh” trong Nghị quyết sô 02 đối với lĩnh vực văn hóa. Hà Nội phải bảo vệ và khuyến khích những cán bộ dám nghĩ, dám làm, làm hiệu quả và làm đến cùng đối với các loại hình nghệ thuật mới, dám đứng ra tổ chức các sự kiện văn hóa quy mô lớn mang tính thử nghiệm. Quản lý văn hóa trong kỷ nguyên mới không phải là cấm đoán mà là kiến tạo hành lang an toàn để sự sáng tạo được thăng hoa.

Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ là một văn kiện định hướng, mà còn truyền đi thông điệp: trao cho Hà Nội sứ mệnh tiên phong trong việc biến các giá trị văn hóa ngàn năm thành sức mạnh kinh tế.
Với thể chế vượt trội, tầm nhìn mới, tư duy mới và những mục tiêu cụ thể, con đường để Thủ đô Hà Nội định vị là trung tâm công nghiệp văn hóa hàng đầu châu Á đã rộng mở. Giờ đây, Hà Nội có hiện thực hóa được hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào bản lĩnh, sự nhạy bén và năng lực kiến tạo của hệ thống chính trị và cộng đồng sáng tạo Thủ đô. Nhưng đã đến lúc, Hà Nội không chỉ được thế giới biết đến về Thành phố Vì hòa bình, Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người, mà còn phải được biết đến là một Thành phố về xuất khẩu văn hóa và đổi mới sáng tạo toàn cầu!