Tác giả - tác phẩm

Châu Tuấn - một giọng thơ lạ giàu liên tưởng siêu nghiệm

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến 09:09 07/04/2026

Châu Tuấn là một tên tuổi lạ của làng thơ Việt đương đại. Anh sống khá ẩn dật, kín đáo trong môi trường văn nghệ. Dường như Châu Tuấn coi việc làm thơ là một nghệ thuật của ngôn ngữ chữ viết, viết cho riêng mình và bè bạn. Anh đến với thơ lặng lẽ, thanh thản và tự nhiên, tự tại như hít thở không khí hằng ngày.

nha-tho-chau-tuan-1.jpg
Nhà thơ Châu Tuấn

Nhà thơ Châu Tuấn tên khai sinh là Châu Anh Tuấn, sinh năm 1962, quê Hà Nội; tốt nghiệp Đại học Bách khoa, từng công tác nhiều năm trong ngành điện lực Việt Nam trước khi nghỉ hưu. Anh hiện là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội. Dù đã xuất bản ba tập thơ (“Đi đến tận cùng” (NXB Văn học), “Những chiếc nôi ru” (NXB Hội Nhà văn), “Vòng tròn bất tận và những bài thơ ngắn” (NXB Hội Nhà văn) nhưng Châu Tuấn không công bố rộng rãi. Anh từng nhận giải thưởng thơ của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội, giải thưởng Lê Quý Đôn của Thái Bình và gần đây được trao giải Nhì cuộc thi “Thơ ca & Nguồn cội”. Trong một lần dự trại sáng tác do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội tổ chức, tôi vô tình nhận được tập bản thảo thơ của Châu Tuấn. Tôi đọc liền một mạch và nhận ra ngay đây là một thi sĩ đích thực, với đầy đủ ý nghĩa của hai chữ ấy.

Những suy tư về cuộc đời và giá trị con người

“Vòng tròn bất tận và những bài thơ ngắn” - tập thơ vừa in của Châu Tuấn tại NXB Hội Nhà văn có tựa đề khá mới lạ. Trong tập thơ mới này, Châu Tuấn hiện lên như một giọng thơ “lạ” theo nghĩa đẹp: lạ ở cách dựng tứ bằng những cú bẻ lái bất ngờ; lạ ở hình tượng vừa mỏng như sương vừa sắc như dao; lạ ở cảm hứng luôn đứng giữa hai bờ thiền tĩnh và phóng túng, trong trẻo và mỉa mai, trữ tình và triết luận. Đọc thơ anh, có thể nhận ra một phong cách nghệ thuật khá đặc biệt, như thơ được xây trên các “trục đối cực” (mặt trời - nỗi buồn, thiên đường - địa ngục, tuyệt mỹ - bí ẩn, phù phiếm - rất thực), và người viết dùng chính đối cực ấy để nâng cảm xúc lên thành tư tưởng.

Châu Tuấn làm tôi ngạc nhiên về những câu thơ trong bài “Lời ru côn trùng” dưới đây:

Ắng lặng vườn trăng
Rỉ rả tiếng côn trùng
Hát rằng

Chí cao như Tần Thủy Hoàng cũng chỉ có
giang sơn trong chốc lát
Tài cao như Hà Tín cũng chỉ hả hê với
thiên thời địa lợi được mấy hồi
Than ôi
Chí mà chi
Tài mà chi

Lại hát rằng
Dũng tướng như Hạng Vũ cũng chỉ đủ để
rút lưỡi gươm tàn bạo
Trí rộng như Khổng Minh cũng chỉ đủ để
giăng bẫy gây rối cuộc đời
Than ôi
Dũng mà chi
Trí mà chi?

Vườn trăng ắng lặng
Ngẫm ngợi điều gì.

Đoạn thơ trên cho thấy một tư tưởng triết lý sâu sắc, ẩn chứa những suy tư về cuộc đời, chí hướng, tài năng và giá trị đích thực của con người. Thông qua hình ảnh thiên nhiên tĩnh lặng và tiếng côn trùng rỉ rả, tác giả gợi nên không gian trầm lắng để suy ngẫm về những điều lớn lao nhưng phù du trong kiếp người. Bằng cách đặt những vĩ nhân lịch sử như: Tần Thủy Hoàng, Hàn Tín, Hạng Vũ, Khổng Minh vào sự hữu hạn của thời gian, Châu Tuấn khéo léo làm nổi bật tính chất phù du mong manh của chí và tài. Cuộc đời, dù vĩ đại đến đâu, cũng chỉ như một vở kịch được dàn dựng khéo léo hoặc một trò chơi của tạo hóa. Đây là một nhận thức đầy tính siêu thoát, hướng con người đến sự an nhiên, chấp nhận những giới hạn tự nhiên.

4.jpg

Bài thơ có hình tượng lạ được biểu đạt qua tiếng côn trùng về sự được - mất, hưng - vong, sinh - tử của thời thế nhân loại từ xa xưa còn vọng lại đến hôm nay. Ở người thơ này, vượt lên trên tất cả là sự quan sát, chiêm nghiệm và tự thân lý giải các hiện tượng của đời sống và con người. Qua tiếng ru của côn trùng, Châu Tuấn gửi gắm một thông điệp: hãy buông bỏ tham vọng để trở về với sự tĩnh lặng nội tâm. Những giá trị mà con người theo đuổi - chí lớn, tài năng, trí tuệ đều có giới hạn trong cuộc đời ngắn ngủi. Cuối cùng, chỉ có sự thấu hiểu bản chất càn khôn và sự an nhiên trong tâm hồn mới là điều đáng quý. Bài thơ khép lại trong không gian “vườn trăng ắng lặng”, nơi tiếng côn trùng tiếp tục ngân vang như một vòng lặp của suy tư, nhắc nhở về bản chất thực sự của đời sống. Đây là cách dựng tứ thơ từ một câu hỏi giản dị dẫn tới một bản đồ nội tâm.

1.jpg

Với bài thơ “Niềm vui phù phiếm”, Châu Tuấn dựng tứ bằng giọng tự thú: “Tôi yêu… Tôi thích… Tôi yêu…”. Nhưng càng thú nhận càng lộ ra một bản cáo trạng đối với đời sống hiện đại, khi chiến tranh giống như phim hoành tráng, tưởng tượng liên vũ trụ như cách trốn hiện tại, đám đông “ngụy trang” và “ngợi ca” nhưng đáy thùng vẫn là “tham lam ích kỷ”. Tứ thơ xoáy dần đến câu kết đinh: “Chỉ vẻ đẹp phi hiện thực/ Chỉ niềm vui phù phiếm/ Là rất thực”. Đây là kiểu tứ nghịch lý, là thứ người đời coi là phụ (phù phiếm, phi hiện thực) lại cứu rỗi cái tôi khỏi sự giả dối của những “nghĩa vụ lớn lao” và các lời dạy đạo đức bị thao túng. Nhìn chung, cách dựng tứ của Châu Tuấn thường có một mũi khoan tư tưởng bắt đầu bằng hình ảnh dễ nắm, rồi khoan sâu đến nơi người đọc phải tự trả lời.

Thơ siêu nghiệm về cái đẹp và sự sống

Hình tượng thơ của Châu Tuấn vừa “mỏng” (tinh, nhẹ, nhiều khoảng trống) vừa “sắc” (độ cắt cao, khái niệm rõ). Bài thơ “Thế giới buồn” dùng hình tượng vũ trụ và huyền thuật (mặt trời, thần chú, phù thủy, ngôi sao) không phải để trang trí mà để tạo một nền “siêu nghiệm” cho nỗi buồn:

Không phải lỗi của mặt trời
Nhưng mặt trời biết
Vì sao thế giới buồn

Không phải lỗi của những câu thần chú
Nhưng những gã phù thủy biết
Vì sao thế giới buồn

Không phải lỗi của biết bao điều ước
Nhưng những lấp lánh ngôi sao biết
Vì sao thế giới buồn

Có ngắm mình trong một triệu tấm gương
Ta cũng không thể nhận ra gương mặt mình
vốn có
Bạn ơi
Chỉ nhìn thật sâu
Thật sâu vào nỗi buồn
Ta mới hiểu được đúng mình là ai

Thế giới trôi đi trong tấm lòng bao dung thuần khiết
Cứ lướt qua mọi ngông cuồng
Ngông cuồng của ý chí
Cứ lướt qua mọi đồng lõa
Đồng lõa của tham lam
Cứ lướt qua mọi tăm tối
Tăm tối của cuồng tín và giáo điều
Cứ lướt qua mọi ngạo mạn
Ngạo mạn của ích kỷ và vô tâm
Cứ lướt qua mọi nhàm chán
Nhàm chán của sợ hãi và hoang đường
Thế giới trôi đi trong nỗi buồn không thể khác

Bạn ơi
Chỉ nhìn thật sâu
Thật sâu vào nỗi buồn
Ta mới hiểu được đúng mình là ai

Thế giới trôi đi trong nỗi buồn không thể khác.

Khi đã nâng nỗi buồn lên tầm vũ trụ, tác giả kéo nó trở lại gương mặt con người: “Có ngắm mình trong một triệu tấm gương…”. Hình tượng “một triệu tấm gương” vừa phóng đại vừa chua xót: nhìn nhiều đến mấy vẫn không thấy “gương mặt mình vốn có” nếu không dám nhìn thẳng vào nỗi buồn. Ở đây, hình tượng được dựng như một phép ẩn dụ nhận thức. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Châu Tuấn là phản tư, nhưng không phản phản tư khô. Nó đi cùng một chất thiền lắng nghe, ngẫm ngợi, nhìn sâu. Nhiều bài trong tập cho thấy mạch này khi tác giả nhìn sâu vào nỗi buồn để nhận ra bản ngã, lắng nghe hương trà để nhận ra sự sống tinh vi. Ở hai bài này, cảm hứng gần với một thứ “tu tập thẩm mỹ” với cái đẹp không ồn ào, cái hiểu đến từ tĩnh tại.

Song trong “Niềm vui phù phiếm” lại phơi bày một mạch phản tư hiện đại bằng giễu nhại. Cái tôi tự nhận mình yêu phù phiếm, nhưng đó là cách nói ngược để chống lại sự đạo mạo giả. Bài thơ có nhịp gấp, câu dài, nhiều động từ mạnh (“ngợp”, “ngập”, “nốc cạn”, “nghi ngờ”) tạo cảm giác một ý thức đang quá tải trước thế giới. Cảm hứng ở đây là một dạng nổi loạn tinh thần không phá phách, mà bóc lớp mặt nạ. Còn bài “Lời ru côn trùng” đứng giữa hai mạch vừa thiền vừa phê phán. Từ đó có thể nói cảm hứng thơ Châu Tuấn thường đặt con người trước một bài toán: đi qua ảo tưởng của quyền lực, tham vọng, đạo lý sáo rỗng để trở về một sự thật giản dị mà khó sống.

Điều làm thơ Châu Tuấn “có tư tưởng” không phải vì nói điều lớn lao mà vì biết đặt vấn đề. Bài thơ “Thế giới buồn” đặt câu hỏi về căn tính: muốn hiểu mình, hãy nhìn vào nỗi buồn, nghĩa là đừng chạy trốn bóng tối của bản thân bằng thần chú hay điều ước. Đó là một tư tưởng mang tính đạo đức nội tâm: thành thật với mình là bước đầu của trưởng thành.

Qua tập thơ này có thể phác ra phong cách Châu Tuấn bằng vài nét gọn: dựng tứ bằng nghịch lý và chuyển sâu; dựng hình tượng bằng đối cực mỏng - sắc; cảm hứng hòa giữa thiền tĩnh và phản tư hiện đại; tư tưởng được nâng lên bằng cách đặt vấn đề nhân sinh thay vì hô khẩu hiệu. Thơ anh vừa ru người đọc bằng trăng, trà, lụa, sắc màu, vừa đánh thức bằng nỗi buồn, hoài nghi và cái nhìn không khoan nhượng với sự ngạo mạn, tham lam, vô tâm. Sau cùng, có lẽ điều đặc biệt nhất của thơ Châu Tuấn là không cố làm người đọc vui mà làm người đọc tỉnh. Trong sự tỉnh ấy, vẻ đẹp (dù phi hiện thực) và niềm vui (dù phù phiếm) lại trở thành một thứ rất thực như khả năng tự hiểu mình, tự bảo vệ mình và tự sống đúng với phần người sâu nhất.

Khép lại tập thơ “Vòng tròn bất tận và những bài thơ ngắn”, có thể thấy Châu Tuấn đã tạo nên một “khí quyển” nghệ thuật riêng. Thơ anh không chạy theo kể chuyện hay minh họa cảm xúc đơn tuyến, mà dựng một trường đối cực để ý nghĩa tự phát sáng. Nỗi buồn được nhà thơ xem như một phương pháp nhận thức; vẻ đẹp được đặt vào vùng bí ẩn không thể sở hữu; hương trà trở thành cánh cửa của sự tinh tế; còn “niềm vui phù phiếm” là cách tự vệ của cá nhân trước đạo mạo giả và quyền lực thao túng. Chính vì thế, thơ Châu Tuấn vừa có chất thiền lặng, vừa có mạch phê phán sắc, lại vừa có một giọng tự thú phóng túng mà tỉnh táo.

Về nghệ thuật, dấu ấn nổi bật của Châu Tuấn là khả năng khoan sâu từ hình ảnh đến tư tưởng với những điệp khúc, chuỗi liệt kê và nghịch lý được tổ chức như nhịp “thần chú ngược”, càng đọc càng thấy lớp vỏ ngôn từ mỏng đi để lộ cấu trúc suy nghiệm bên trong. Hình tượng thơ của anh vì thế vừa tối giản vừa giàu liên tưởng, mỏng mà sắc, riêng tư nhưng chạm tới kinh nghiệm chung của con người hiện đại với khủng hoảng căn tính, sự mệt mỏi trước đám đông, khát vọng được sống thật và tự do khỏi khuôn mẫu áp đặt. Ở điểm cuối, thơ Châu Tuấn không hứa hẹn một sự an ủi dễ dãi, mà trao cho người đọc một năng lực khó hơn: dám nhìn sâu, dám lắng nghe và dám giữ phẩm giá tinh thần giữa một thế giới “buồn không thể khác”.

Châu Tuấn đã lý giải về sự bí mật kỳ thú của thi ca như sau: “Âm nhạc thường có xu hướng lôi kéo tâm hồn người ta vào trạng thái đắm say hoặc cuồng loạn nào đó. Những bài triết thuyết thường có xu hướng lôi kéo tâm hồn người ta vào một nỗi sợ hãi hoặc vào một mong ngóng giải thoát nào đó. Thơ thường là kết quả của một tâm hồn đang trầm ngâm suy tư. Bởi vậy chỉ có âm nhạc và những bài diễn văn mới có thể kéo được những đám đông tụ tập, những đám đông ngất ngây, những đám đông vĩ cuồng. Vì thế thơ chỉ gần gũi với những tâm hồn thích suy tư, nghiền ngẫm để khám phá ra chính mình. Thơ không thể trình bày mình trước đám đông, nó chỉ có thể trò chuyện với từng tâm hồn riêng lẻ mỗi khi tâm hồn đó muốn tâm sự với chính mình”./.

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến